Ngành thủy sản đang quyết liệt thực hiện lộ trình giảm khai thác, đẩy mạnh nuôi trồng công nghệ cao, tháo gỡ rào cản thị trường, khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn.
Tại Hội nghị Khoa học, Công nghệ lĩnh vực Thủy sản và Kiểm ngư toàn quốc lần thứ nhất năm 2026, ngày 28/4, TS Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, ngành thủy sản Việt Nam có nhiều cơ hội nhờ lợi thế quốc gia nhiệt đới ven biển, đa dạng sinh học phong phú, khả năng phục hồi nguồn lợi tốt, cùng hệ sinh thái nuôi trồng đa dạng từ nước lạnh đến nuôi biển xa bờ.
Giảm khai thác, tăng nuôi trồng
Đặc biệt, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng lợi thế lớn, cùng với năng lực chế biến hiện đại giúp ngành hội nhập sâu rộng và đáp ứng nhu cầu thị trường toàn cầu ngày càng tăng.
Tuy nhiên, theo TS. Trần Đình Luân, ngành cũng đối mặt nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường vùng nuôi, rào cản thương mại, đặc biệt là thẻ vàng và việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, chi phí tuân thủ cao, hạ tầng còn hạn chế và nguồn lợi thủy sản bị đe dọa suy giảm lớn.
Bên cạnh lợi thế khai thác, Việt Nam còn nhiều tiềm năng nuôi trồng thủy sản với các đối tượng giá trị cao như rong tảo, trai ngọc, tôm hùm, cá biển và nhuyễn thể.
“Đây vừa là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, vừa là nguyên liệu quan trọng cho chế biến và xuất khẩu”, TS. Luân nhấn mạnh và cho biết, kết quả đạt được của giai đoạn 2021-2025 cho thấy, xu hướng sản lượng giảm khai thác, tăng nuôi trồng, tuy nhiên vẫn chưa đạt yêu cầu theo chiến lược đề ra.
Trong đó, sản lượng nuôi trồng tăng từ 4,88 triệu tấn lên 6,11 triệu tấn; xuất khẩu đạt 11,3 tỷ USD năm 2025, tiệm cận đến 14-16 tỷ USD giai đoạn 2030. Tôm nước lợ đóng góp trên 40% giá trị xuất khẩu; cá tra đạt 1,98 triệu tấn, tiến tới mục tiêu 2-2,5 triệu tấn vào năm 2030. Sản lượng khai thác giảm bình quân 0,9%/năm nhằm bảo vệ nguồn lợi và ứng phó với cảnh báo “thẻ vàng” IUU của Ủy ban châu Âu (EC).
"Đây là tiền đề để chúng ta thay đổi cách làm, thay đổi việc ứng dụng khoa học công nghệ để ngành thủy sản và kiểm ngư bứt phá trong giai đoạn tới", TS Luân nhấn mạnh.
Nhờ tập trung vào chế biến sâu và tháo gỡ rào cản kỹ thuật, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,3 tỷ USD năm 2025, đóng góp hơn 16% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp.
Về khai thác, theo TS Luân, sản lượng cơ bản ổn định, số lượng tàu cá khoảng 79.000-80.000 chiếc; hệ thống cảng cá, truy xuất nguồn gốc được tăng cường nhằm chống khai thác bất hợp pháp.
Hiện cả nước có 823 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp, trong đó 82% là các cơ sở đông lạnh hiện đại, tạo lợi thế cạnh tranh lớn. Đáng nói, nhiều doanh nghiệp đầu tàu như Minh Phú, Vĩnh Hoàn đóng vai trò dẫn dắt, đưa sản phẩm vào các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Công tác bảo vệ nguồn lợi được đẩy mạnh với các chương trình điều tra, tái tạo nguồn lợi, kiểm soát khai thác và tuần tra biển.
"Xuất khẩu thủy sản đang phục hồi rõ nét khi các thị trường dần khởi sắc, mở ra cơ hội tăng trưởng trong thời gian tới", TS Luân nhấn mạnh.
Tái cấu trúc theo hướng bền vững
Theo đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư, chiến lược phát triển bền vững không chỉ là tăng trưởng kinh tế. Ngành thủy sản đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, chương trình lớn, trong đó đẩy mạnh bảo vệ hệ sinh thái biển, hướng tới mục tiêu bảo vệ 6% diện tích vùng biển tự nhiên vào năm 2030.
Hoạt động thả giống tái tạo nguồn lợi và đồng quản lý với cộng đồng được mở rộng. Lực lượng kiểm ngư được tăng cường, duy trì tuần tra tại các vùng biển trọng điểm, góp phần xử lý vi phạm và chống khai thác bất hợp pháp (IUU).
Khoa học công nghệ tiếp tục là khâu đột phá, với nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn được ban hành và ứng dụng rộng rãi. Chuyển đổi số, công nghệ giảm phát thải và kinh tế tuần hoàn đang dần đi vào thực tiễn. Hợp tác quốc tế cũng được mở rộng cả song phương và đa phương, với nhiều quốc gia và tổ chức lớn, góp phần nâng cao năng lực quản lý, tiếp cận công nghệ và tăng cường hội nhập.
Về thể chế, ngành tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, với Luật Thủy sản 2017 làm nền tảng, cùng các chiến lược, quy hoạch, chương trình quốc gia và hàng loạt đề án phát triển. Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức lại sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân phát triển ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững.
Định hướng trọng tâm là chuyển từ sản xuất sang kinh tế, từ đơn giá trị sang đa giá trị; đẩy mạnh nuôi biển, giảm khai thác, minh bạch nguồn gốc, mở rộng bảo tồn biển đạt 6% diện tích tự nhiên.
Ngành cũng tập trung tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc, quản lý tàu cá; phát triển hạ tầng, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời, tăng cường bảo vệ nguồn lợi, kiểm soát khai thác trái phép và thúc đẩy các mô hình nuôi bền vững.
"Đây là những giải pháp căn cơ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam trong thời gian tới", TS Luân nhấn mạnh.
Để tạo đà phát triển, TS Luân kiến nghị, tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, mặt nước và nguồn lực nuôi trồng. Đồng thời, cần xử lý rào cản tại các thị trường lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc; ưu tiên đầu tư hạ tầng và công nghệ quản lý tàu cá; tăng cường năng lực kiểm ngư.
Đặc biệt, công tác kiểm soát dịch bệnh và quản lý thuốc thú y thủy sản cần được siết chặt, hướng tới xây dựng các vùng nuôi an toàn theo chuỗi.
Theo TS Trần Đình Luân, mục tiêu đến năm 2030, ngành thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng 3-4%/năm, tổng sản lượng 9,8 triệu tấn, trong đó nuôi trồng 7 triệu tấn, khai thác 2,8 triệu tấn. Đồng thời, xây dựng cộng đồng ngư dân văn minh, phát triển kinh tế thủy sản đa giá trị gắn với du lịch, sinh thái, kinh tế tuần hoàn.