Ngành nuôi biển đang đối mặt nhiều điểm nghẽn khiến việc phát triển theo hướng công nghiệp, quy mô lớn gặp khó, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam.
Ông Dũng cho biết một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay là việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân nuôi trồng vẫn triển khai chậm. Dù Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết 139/2024/QH15, việc cụ thể hóa xuống địa phương còn thiếu chi tiết và chưa tạo được cơ sở rõ ràng để cấp phép.
Những vấn đề này khiến doanh nghiệp khó tiếp cận mặt nước để đầu tư. Chưa kể, chi phí sử dụng khu vực biển được đánh giá ở mức cao, tạo thêm gánh nặng. Theo ông Dũng, doanh nghiệp vừa phải bỏ vốn đầu tư hạ tầng, vừa phải trả phí sử dụng biển ngay từ đầu, khiến hiệu quả tài chính giảm, đặc biệt trong giai đoạn đầu triển khai dự án.
Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn cho nuôi biển công nghiệp cũng chưa thống nhất trên quy mô toàn quốc. PGS Dũng chỉ ra, nhiều địa phương hiện phải tự xây dựng quy định nội bộ, trong khi chưa có khung tiêu chuẩn ở cấp quốc gia, gây khó khăn nếu doanh nghiệp muốn phát triển đồng bộ tại nhiều khu vực biển.
"Nuôi biển có tiềm năng lớn nhưng chưa có cơ chế tương xứng", Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam chia sẻ tại Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng bàn biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức chiều 4/5.
Một vấn đề khác là nguồn nhân lực. Theo ông Dũng, hiện chưa có hệ thống đào tạo bài bản cho nuôi biển công nghiệp, trong khi đây là lĩnh vực đòi hỏi kỹ thuật và công nghệ cao. Việc đào tạo nghề, từ công nhân đến kỹ thuật viên, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành trong giai đoạn tới.
Thừa nhận vẫn còn độ chênh giữa các địa phương trong công tác giao biển, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nêu, có nơi như Quảng Ninh triển khai giao biển khá nhanh, trong khi một số khác như An Giang lại chậm, dù đã có hướng dẫn từ cơ quan quản lý. “Có địa phương đã có văn bản nhưng chưa rõ phải tiếp tục thực hiện các bước gì”, ông nói.
Phân tích thêm về thủ tục, ông Luân cho biết, trước đây việc cấp phép dự án nuôi biển phải thực hiện 2 quy trình riêng biệt, gồm chấp thuận dự án thủy sản và giao mặt nước. Tuy nhiên, các thủ tục này đã được tích hợp, giúp rút ngắn quy trình và giảm thời gian xử lý cho doanh nghiệp.
Dù vậy, quá trình triển khai thực tế vẫn gặp vướng mắc do phải phối hợp giữa nhiều bên, từ cơ quan quản lý đến địa phương và doanh nghiệp. Một số dự án nuôi biển quy mô lớn đã được thúc đẩy nhưng tiến độ chưa đồng đều giữa các khu vực.
Liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, Cục trưởng cho biết hệ thống quy chuẩn cho nuôi biển công nghiệp vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Cơ quan quản lý đang phối hợp với các đơn vị tư vấn quốc tế, trong đó có chuyên gia từ Na Uy, để xây dựng tiêu chuẩn cho các khu nuôi biển công nghiệp.
Theo ông, việc xây dựng tiêu chuẩn này đòi hỏi khảo sát kỹ lưỡng các điều kiện tự nhiên như sóng, gió, dòng chảy, độ sâu… để xác định mô hình phù hợp cho từng vùng. “Không thể áp dụng nguyên mẫu từ nước ngoài mà phải tính toán theo điều kiện thực tế của Việt Nam”, ông bày tỏ.
Một số tiêu chuẩn bước đầu đã được xây dựng, nhưng chưa đủ để làm căn cứ triển khai các nội dung liên quan như đăng kiểm lồng bè, bảo hiểm hay đầu tư quy mô lớn. Đây được xem là điểm nghẽn cần tháo gỡ sớm trong quá trình phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp.
Ông Luân cũng cho biết các chính sách liên quan đến đào tạo, chuyển đổi nghề và hỗ trợ phát triển nuôi biển đang được rà soát, tích hợp trong các chương trình hiện có. Tuy nhiên, để ngành nuôi biển phát triển, cần hoàn thiện đồng bộ cả về thể chế, tiêu chuẩn kỹ thuật và tổ chức thực hiện tại địa phương.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng coi không gian biển là hướng đi quan trọng để mở rộng sản xuất nông nghiệp, nhất là trong bối cảnh dư địa phát triển trên đất liền ngày càng hạn chế. “Dư địa phát triển hiện nay chủ yếu nằm ở biển”, ông nói, đồng thời nhấn mạnh cần xác định rõ định hướng phát triển nuôi biển trong tổng thể chiến lược kinh tế biển.
Các vấn đề về quy hoạch và giao khu vực biển cho người dân, doanh nghiệp là then chốt, cần được làm rõ về trách nhiệm và cách thức triển khai, theo Thứ trưởng. Dù khung pháp lý đã được ban hành, việc thực thi ở địa phương còn chưa thống nhất. Do đó, cơ quan chuyên môn cần tiếp tục hoàn thiện để tạo điều kiện cho nhà đầu tư.
Điểm được ông Hưng nhấn mạnh là chính sách phí sử dụng khu vực biển. Theo ông, mức thu hiện nay còn cao, chưa phù hợp trong giai đoạn đầu phát triển, có thể làm giảm động lực đầu tư.
Ông đồng tình với đề xuất của Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam và cam kết xem xét ban hành cơ chế khuyến khích ban đầu, như giảm hoặc chưa thu phí trong những năm đầu để doanh nghiệp và người dân có điều kiện triển khai nuôi trồng.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng chỉ ra sự thiếu cân đối trong chính sách hỗ trợ giữa nuôi biển và sản xuất nông nghiệp trên đất liền. Trong khi nông nghiệp được hưởng nhiều hỗ trợ về hạ tầng, thủy lợi, thì nuôi biển chưa có các chính sách tương đương, dù đây là lĩnh vực tiềm năng.
Theo Thứ trưởng, cần xây dựng các chính sách tổng thể cho nuôi biển, bao gồm hỗ trợ đầu tư, bảo hiểm rủi ro, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển mô hình sản xuất phù hợp. Việc phát triển nuôi biển không chỉ dừng ở quy mô nhỏ lẻ mà phải hướng tới mô hình công nghiệp, gắn với chuỗi giá trị và công nghệ.
"Nuôi biển đủ tiềm năng trở thành một trụ cột mới của ngành thủy sản, đóng góp vào tăng trưởng chung của toàn ngành", Thứ trưởng nhấn mạnh và chỉ đạo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị liên quan tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong phát triển nuôi biển, tăng cường tham vấn chuyên gia để xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam kiến nghị, phát triển các khu nuôi biển tập trung theo mô hình công nghiệp, tương tự các cụm, khu công nghiệp trên đất liền. Trong đó, doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và hình thành chuỗi cung ứng.
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng nhìn nhận, nuôi biển không thể tiếp tục phát triển theo hình thức nhỏ lẻ như trước, mà cần chuyển nhanh sang quy mô lớn, ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả và giá trị xuất khẩu trong thời gian tới.