Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cần chuyển mạnh từ nghiên cứu theo khả năng sang nghiên cứu giải quyết vấn đề lớn, cấp thiết của ngành và yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông báo số 5063/TB-BNNMT về ý kiến kết luận của Thứ trưởng Võ Văn Hưng tại buổi làm việc với Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam vào ngày 5/5, tại Bắc Ninh.
Thông báo cho hay, trong thời gian qua, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đã kế thừa và phát huy hiệu quả nền tảng, truyền thống và năng lực của các viện nghiên cứu thủy sản trước đây, đạt được nhiều kết quả quan trọng trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phục vụ phát triển ngành thủy sản.
Viện đã từng bước làm chủ nhiều công nghệ về chọn tạo giống, nuôi trồng, khai thác, bảo vệ nguồn lợi và chế biến thủy sản; đóng góp tích cực cho công tác xây dựng cơ chế, chính sách, quy hoạch và định hướng phát triển ngành. Đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao phục vụ yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế của ngành thủy sản.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Viện vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục trong thời gian tới.
Hoạt động nghiên cứu khoa học ở một số lĩnh vực còn phân tán, chưa hình thành được các chương trình nghiên cứu trọng điểm mang tính đột phá và có sức lan tỏa lớn đối với toàn ngành. Một số lĩnh vực nghiên cứu còn thiếu tính dự báo chiến lược, chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế của ngành thủy sản.
Liên kết giữa nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp và sản xuất thực tiễn còn chưa chặt chẽ; việc thương mại hóa và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn còn hạn chế; chưa hình thành rõ nét các mô hình liên kết hiệu quả giữa viện nghiên cứu - doanh nghiệp - người sản xuất.
Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ còn hạn chế; cơ chế tài chính, chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Viện được hợp nhất từ 5 viện nghiên cứu có lịch sử hoạt động lâu năm, nhiều cơ sở đặt tại khu vực ven biển nên cơ sở vật chất xuống cấp nhanh, trong khi mức tự chủ tài chính cao tạo áp lực lớn đối với hoạt động thường xuyên. Đồng thời, lĩnh vực thủy sản có mức độ rủi ro cao, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, môi trường và dịch bệnh; số lượng nhiệm vụ khoa học và công nghệ được giao chưa tương xứng với tiềm năng và năng lực của Viện.
Nuôi biển chưa tạo được đột phá rõ nét về công nghệ và tổ chức sản xuất; chuyển đổi số trong ngành thủy sản còn chậm; hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý, dự báo và điều hành ngành còn phân tán.
Những khó khăn này đòi hỏi cần sớm tăng cường nguồn lực đầu tư và hoàn thiện cơ chế hỗ trợ phù hợp để Viện phát huy hiệu quả vai trò nghiên cứu đầu ngành trong thời gian tới.
Trong thời gian tới, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao 3 nhiệm vụ, định hướng trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới của ngành.
Một là, đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học. Viện cần chuyển mạnh từ nghiên cứu theo khả năng sang nghiên cứu giải quyết các vấn đề lớn, cấp thiết của ngành và yêu cầu thực tiễn đặt ra; gắn nghiên cứu với thực tiễn sản xuất, nhu cầu thị trường và yêu cầu quản lý nhà nước; tăng cường liên kết giữa Viện - doanh nghiệp - địa phương - người dân. Rà soát, tập trung nguồn lực cho các chương trình nghiên cứu trọng điểm; hạn chế dàn trải; tăng cường nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu có tính ứng dụng và khả năng thương mại hóa cao.
Hai là, đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Tập trung nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ cốt lõi như công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS); xây dựng cơ sở dữ liệu ngành thủy sản; phát triển các mô hình nuôi trồng, khai thác và quản lý thủy sản thông minh theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Ba là, tạo đột phá trong nuôi biển và phát triển chuỗi giá trị thủy sản. Xác định nuôi biển là không gian phát triển mới của ngành thủy sản; tập trung nghiên cứu, làm chủ công nghệ nuôi biển công nghiệp, nuôi xa bờ, công nghệ giống, thức ăn, quan trắc môi trường và phòng chống dịch bệnh. Đồng thời phát triển ngành thủy sản theo chuỗi giá trị khép kín từ giống, nuôi trồng, khai thác, chế biến đến thị trường tiêu thụ; hướng tới tăng trưởng xanh, phát thải thấp và hội nhập quốc tế.