Đặc khu Vân Đồn quyết liệt tháo gỡ triệt để những khó khăn trong thủ tục giao khu vực biển, đưa tài nguyên biển về tay người dân và doanh nghiệp theo đúng lộ trình.
Nằm ở vị trí chiến lược với tiềm năng kinh tế biển to lớn, đặc khu Vân Đồn đang đứng trước vận hội mới khi đẩy mạnh quy hoạch và hiện đại hóa ngành nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, hành trình đưa tài nguyên biển về tay người dân và doanh nghiệp một cách chính danh thông qua việc giao khu vực biển đang đối mặt với không ít rào cản từ thực tiễn và cơ chế pháp lý.
Theo báo cáo mới nhất từ UBND đặc khu Vân Đồn, tính đến đầu năm 2026, toàn khu vực đã ban hành được 143 quyết định giao khu vực biển phục vụ nuôi trồng thủy sản. Trong đó, đã giao hơn 98 ha cho 123 cá nhân thuộc diện chuyển đổi nghề nghiệp và UBND tỉnh cũng đã giao hơn 2.600 ha cho các tổ chức theo thẩm quyền. Số liệu trên đã thể hiện sự chủ động nhất định của bộ máy chính quyền, song thực tế vẫn còn tới 117 doanh nghiệp và hợp tác xã đang nuôi trồng thủy sản trên biển nhưng chưa hoàn thiện hoặc chưa có hồ sơ đề nghị giao khu vực biển.

Nuôi biển Vân Đồn đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ theo hướng công nghệ cao, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững. Ảnh: Cường Vũ.
Phân tích sâu hơn về những nguyên nhân khiến tiến độ giao biển chưa đạt kỳ vọng, theo lãnh đạo đặc khu, yếu tố khách quan từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò then chốt. Thời gian qua, các quy định liên quan đến quản lý và sử dụng tài nguyên biển liên tục được điều chỉnh và bổ sung từ cấp Trung ương đến địa phương. Sự thay đổi này dù hướng tới việc hoàn thiện khung pháp lý nhưng vô hình chung đã tạo ra áp lực lớn cho các tổ chức và cá nhân trong việc cập nhật thông tin. Bên cạnh đó, sự thiếu thống nhất giữa pháp luật về thủy sản và pháp luật về đầu tư đối với các dự án nuôi trồng trên biển đã tạo ra những điểm mờ trong quá trình tổ chức thực hiện.

Với diện tích mặt nước lớn, độ PH thích hợp, dòng nước sạch, nhiều sinh vật phù du, vùng biển, đảo Vân Đồn có tiềm năng lớn phát triển nghề nuôi hàu bền vững. Ảnh: Cường Vũ.
Không chỉ dừng lại ở rào cản văn bản, khó khăn còn ở kỹ thuật và thực địa, như việc xác định đường mép nước biển thấp nhất, hay còn gọi là đường triều kiệt, dẫn đến việc thiếu cơ sở pháp lý nền tảng để phân định ranh giới giao biển.
Trên thực tế, tình trạng chồng lấn quy hoạch giữa các khu vực nuôi trồng thủy sản với các tuyến luồng giao thông thủy hoặc các khu vực phục vụ mục tiêu quốc phòng, an ninh diễn ra khá phổ biến. Công tác rà soát hiện trạng sử dụng mặt biển và xác định ranh giới thực địa đòi hỏi năng lực chuyên môn cao và sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều đơn vị, nhưng đôi khi sự phối hợp này vẫn còn những bất cập nhất định.
Đáng lo ngại hơn cả là hạn chế về năng lực tiếp cận thông tin của một bộ phận lớn ngư dân. Phần lớn những người đang nuôi trồng hiện nay là những hộ dân chuyển đổi từ nghề khai thác ven bờ sang nuôi trồng. Đối với họ, các thủ tục hành chính liên quan đến báo cáo đánh giá tác động môi trường hay hồ sơ thuyết minh dự án là những khái niệm quá xa lạ và phức tạp. Việc lập hồ sơ thường xuyên bị sai sót, phải chỉnh sửa nhiều lần gây mất thời gian và nản lòng cho người thực hiện.
Chính những khó khăn từ phía người dân cộng với sự chậm trễ của doanh nghiệp trong việc xin chấp thuận chủ trương đầu tư đã vô tình kéo chậm lại tiến độ chung của toàn đặc khu.
Cắt giảm "rừng" thủ tục, quyết liệt thu hồi mặt biển sử dụng sai quy định
Trước bối cảnh đó, tại cuộc họp thường trực Đảng ủy đặc khu gần đây, ông Cao Tường Huy, Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch HĐND đặc khu, đã khẳng định quan điểm chỉ đạo quyết liệt rằng không thể để tình trạng sử dụng tài nguyên biển khi chưa đầy đủ cơ sở pháp lý kéo dài thêm.

Bí thư Đặc khu Vân Đồn Cao Tường Huy yêu cầu xây dựng và công khai minh bạch bộ hồ sơ hướng dẫn chi tiết thủ tục cấp phép nuôi biển. Ảnh: Ngân Hà.
Giải pháp hàng đầu được đặt ra là khẩn trương xây dựng và công khai minh bạch bộ hồ sơ hướng dẫn chi tiết. Cùng với đó, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, không để xảy ra tình trạng nhũng nhiễu; đồng thời làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong các khâu thẩm định, phê duyệt và triển khai chủ trương đầu tư.
Điểm sáng trong nỗ lực này là việc đơn giản hóa tối đa thủ tục cho cá nhân nuôi trồng trong phạm vi 3 hải lý, nơi người dân chỉ cần đơn đề nghị và phương án nuôi trồng thay vì hàng loạt giấy tờ phức tạp như trước.
Bên cạnh việc hỗ trợ, chính quyền cũng thể hiện thái độ kiên quyết đối với những trường hợp cố tình chây ì. Với những doanh nghiệp, hợp tác xã đã được hướng dẫn nhưng vẫn không hoàn thiện hồ sơ theo đúng lộ trình của tỉnh, đặc khu Vân Đồn sẽ tập trung rà soát và thực hiện các biện pháp thu hồi để trả lại mặt biển cho Nhà nước quản lý.
Theo ông Cao Tường Huy, đây là biện pháp mạnh tay nhưng cần thiết để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong sử dụng tài nguyên. Đồng thời, đặc khu cũng đang tích cực báo cáo cấp tỉnh để sớm triển khai việc xác định đường triều kiệt, tạo lập bản đồ pháp lý chuẩn xác cho từng mét vuông mặt biển.
Song song với các biện pháp hành chính, công tác tuyên truyền và vận động quần chúng được xem là chìa khóa để duy trì sự ổn định. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội tại Vân Đồn đang tích cực vào cuộc để giúp người dân hiểu rõ quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình khi được giao biển. Việc nâng cao nhận thức pháp lý cho ngư dân không chỉ giúp tháo gỡ các "nút thắt" thủ tục mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo an ninh trật tự trên biển.
Ông Huy nhấn mạnh, sự đồng thuận của nhân dân chính là nền tảng vững chắc nhất để các dự án nuôi trồng thủy sản tập trung, hiện đại sớm đi vào hoạt động ổn định.
Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự chủ động từ phía doanh nghiệp, người dân, Vân Đồn kỳ vọng sẽ sớm hoàn thành mục tiêu giao biển đúng quy hoạch. Khi những rào cản pháp lý được dỡ bỏ, tiềm năng từ biển sẽ thực sự trở thành nguồn lực mạnh mẽ, đưa đặc khu trở thành một trung tâm kinh tế biển năng động và hiện đại của tỉnh Quảng Ninh cũng như của cả nước.
Cường Vũ
Nguồn: https://mae.gov.vn/van-don-thao-go-nut-that-phap-ly-trong-cong-tac-giao-khu-vuc-bien-21556.htm