Thúc đẩy phát triển kinh tế biển: Môi trường, hệ sinh thái biển phải được "tôn trọng", sử dụng bền vững

Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, phát triển kinh tế biển không chỉ khơi thông nguồn lực từ biển mà phải mở rộng phạm vi điều chỉnh, chuyển từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển.

Quản trị biển hiện đại, gắn phát triển kinh tế biển xanh

Việt Nam sở hữu bờ biển dài hơn 3.260 km, là cửa ngõ quan trọng ra biển cho nhiều địa phương, đồng thời là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú. Kinh tế biển, bao gồm các ngành như thủy sản, du lịch biển, vận tải biển, khai thác dầu khí và năng lượng tái tạo ngoài khơi, đã và đang đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế quốc gia.

Theo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sau gần 10 năm tổ chức thực hiện, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; góp phần nâng cao nhận thức, hình thành các công cụ quản lý tổng hợp, từng bước thúc đẩy điều phối liên ngành, liên vùng trong quản lý, khai thác, sử dụng biển và hải đảo.

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, nhất là yêu cầu khơi thông nguồn lực từ biển phục vụ tăng trưởng nhanh và bền vững, nhiều quy định của Luật năm 2015 đã bộc lộ hạn chế, bất cập, chưa theo kịp thực tiễn.

Một trong những vấn đề đang đặt ra, đó là tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường và mất cân bằng sinh thái biển ngày càng trở nên nghiêm trọng, đòi hỏi một sự điều chỉnh chiến lược sâu sắc hơn về cách thức phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường.

Theo các báo cáo nghiên cứu gần đây, hơn 70% diện tích rạn san hô ở các vùng biển Việt Nam đã bị suy giảm nghiêm trọng về độ phủ và đa dạng sinh học, trong đó có 11% là bị phá hủy hoàn toàn. Rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn là ba hệ sinh thái biển quan trọng nhất, đóng vai trò không chỉ trong việc bảo vệ bờ biển trước xói mòn, bão lụt mà còn là nơi sinh sống của hàng nghìn loài thủy sản và sinh vật biển khác nhau. Sự mất mát những hệ sinh thái này đã và đang khiến nguồn lợi thủy sản suy giảm, đồng thời làm giảm khả năng hấp thụ carbon và điều hòa khí hậu của đại dương.

Tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa, hóa chất độc hại từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản, công nghiệp chế biến, và các hoạt động xây dựng hạ tầng ven biển đang làm xấu đi chất lượng nước biển và tác động tiêu cực đến đời sống sinh vật biển. Rác thải nhựa trôi nổi là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất, với hàng trăm tấn rác thải nhựa đổ ra biển mỗi năm, ảnh hưởng trực tiếp tới sinh cảnh của nhiều loài động vật biển, trong đó có cả các loài đang nằm trong sách đỏ.

Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 là cấp thiết hiện nay. Trong đó, sẽ góp phần mở rộng phạm vi điều chỉnh, chuyển từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển.

Cùng với mở rộng phạm vi điều chỉnh, dự thảo Luật sẽ bổ sung một số khái niệm mới như tài nguyên biển vị thế, giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển, đăng ký sử dụng khu vực biển, kinh tế biển mới, kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp...

"Đây là các khái niệm cần thiết để Luật có đủ công cụ pháp lý điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong quản lý, sử dụng không gian biển và phát triển kinh tế biển bền vững", ông Toản nói.


PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, quản trị biển hiện đại phải gắn phát triển kinh tế biển xanh với bảo tồn đa dạng sinh học. Ảnh: TĐ

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần tiếp cận theo hướng quản trị biển hiện đại, gắn phát triển kinh tế biển xanh với bảo tồn đa dạng sinh học và quy hoạch không gian biển.

Theo ông Hồi, Việt Nam đã đặt nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh từ Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia và các kế hoạch hành động liên quan trong nhiều năm qua. Trong đó, hệ sinh thái biển và các hệ sinh thái tự nhiên ven biển chính là nền tảng để phát triển kinh tế biển bền vững.

Việt Nam đã có cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học biển. Trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam theo Nghị quyết 36, mục tiêu đến năm 2030 là diện tích các khu bảo tồn biển và ven biển đạt khoảng 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận theo mô hình khu bảo tồn biển truyền thống thì rất khó đạt mục tiêu này.

Hoạt động thả rùa về biển tại đặc khu Côn Đảo, TP HCM góp phần bảo vệ sinh thái và các loài sinh vật biển. Ảnh: Phạm Hưng

Ông cho rằng trên thực tế cần nhìn rộng hơn, bao gồm cả các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo tồn giống loài thủy sinh và các hình thức bảo tồn khác đang tồn tại trong thực tiễn quản lý.

Theo chuyên gia này, quốc tế hiện cũng đã xuất hiện khái niệm OECM - tức các khu vực được quản lý bằng những hình thức khác nhau nhưng vẫn tạo ra hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học. Đây có thể là hướng tiếp cận phù hợp để Việt Nam nghiên cứu bổ sung vào dự thảo luật và các quy hoạch biển trong thời gian tới.

Ông Hồi cho rằng việc bảo tồn biển không nên chỉ chạy theo mục tiêu diện tích, mà quan trọng hơn là khả năng phục hồi hệ sinh thái và tạo hiệu ứng lan tỏa sinh học ra các vùng biển xung quanh.

“Khu bảo tồn biển nếu được quản lý tốt sẽ tạo hiệu ứng phát tán nguồn lợi ra bên ngoài, góp phần phục hồi hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản ở các khu vực lân cận”, ông nói.

Môi trường, hệ sinh thái biển phải được "tôn trọng", sử dụng bền vững

Nghị quyết số 36 của Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 nêu rõ mục tiêu phát triển kinh tế biển theo hướng xanh, sạch, thân thiện với môi trường, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên và đa dạng sinh học biển.

Việc xây dựng các khu bảo tồn biển, mở rộng diện tích rừng ngập mặn và phục hồi các rạn san hô bị suy thoái đang được đẩy mạnh tại nhiều địa phương như Quảng Ninh, Khánh Hòa, Cà Mau, Bến Tre (cũ)- nay là tỉnh Vĩnh Long… Những biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn góp phần tăng cường khả năng chống chịu của hệ sinh thái trước biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, việc áp dụng các mô hình nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, thân thiện với môi trường đang được triển khai ở nhiều nơi nhằm giảm thiểu ô nhiễm và áp lực khai thác nguồn lợi tự nhiên. Mô hình nuôi cá lồng ngoài khơi, các hệ thống xử lý nước thải và chất thải trong sản xuất thủy sản được đánh giá là bước tiến quan trọng trong phát triển bền vững.

Người nuôi thủy sản ở vùng vịnh Vũng Rô (thuộc địa bàn xã Hòa Xuân Nam, TX Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (cũ) - nay là tỉnh tỉnh Đắk Lắk gom rác thải mang vào bờ. Ảnh: Anh Ngọc

Từ góc nhìn của tổ chức quốc tế, ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam cho hay, cần nhìn nhận rõ giới hạn của không gian biển tự nhiên. Nếu khai thác quá mức, hệ sinh thái sẽ bị quá tải và suy thoái. Vì vậy, việc phát triển kinh tế biển phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.

Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa nội dung phục hồi tự nhiên vào các quy định, chính sách. Đây sẽ là cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp có thể tiếp cận và huy động nguồn lực tài chính cho các hoạt động bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái.

Liên quan đến cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã tham gia Hội nghị COP15 về Đa dạng sinh học diễn ra tại Montreal, Canada (tháng 12/2022) và ủng hộ mục tiêu toàn cầu về bảo tồn. Việt Nam đang nỗ lực triển khai mục tiêu bảo vệ ít nhất 30% diện tích tự nhiên vào năm 2030.

Để thực hiện mục tiêu này, cần xác định rõ các khu vực sinh thái quan trọng như rạn san hô, đồng thời thúc đẩy cơ chế hợp tác đa bên giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc “quy tụ” các nguồn lực sẽ giúp hài hòa giữa khai thác, sử dụng và bảo tồn, hướng tới phát triển bền vững kinh tế biển.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh, biển là không gian ba chiều, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ mô hình quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành nhằm giảm hài hoà lợi ích giữa các hoạt động kinh tế trên cùng một vùng biển.

Bên cạnh đó, công cụ quản lý cần dựa trên hệ sinh thái biển. Chẳng hạn, thay vì chỉ quản lý rùa biển, cần quản lý nơi cư trú, môi trường sống của chúng; hoặc quản lý hành vi khai thác và các yếu tố tác động đến hệ sinh thái.

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, đại dương đang chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm và các hoạt động khai thác thiếu kiểm soát. Những biểu hiện rõ nét gồm hiện tượng ấm lên của đại dương, axit hóa nước biển, thiếu oxy, nước biển dâng và suy giảm nguồn lợi thủy sản.

Ông cảnh báo con người đang khai thác tài nguyên biển bằng mọi cách nhưng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo vệ hệ sinh thái. Một trong những minh chứng rõ nhất là tình trạng rác thải nhựa đại dương ngày càng nghiêm trọng, gây ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe hệ sinh thái biển toàn cầu.

Nguồn: danviet.vn

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam