Tầm nhìn 'làng nuôi biển hiện đại'

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng nói: 'Các cụm công nghiệp nuôi biển hay làng nuôi biển hiện đại là đòn bẩy quan trọng, hữu hiệu để thực hiện quá trình công nghiệp hóa ngành nuôi biển'.

Khát vọng biển khơi

Có những hoài bão được khởi nguồn từ đất liền, nhưng cũng có nhiều khát vọng được hoài thai từ biển cả. Một trong những khát vọng đó là phát triển nuôi biển công nghiệp - chinh phục đại dương bằng khoa học công nghệ, bằng tư duy phát triển hiện đại và mong muốn đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Không chỉ tạo ra giá trị kinh tế lớn, ngành nuôi biển công nghiệp tương lai còn phải giải được bài toán hài hòa giữa tăng trưởng và bảo tồn, giữa phát triển kinh tế với gìn giữ môi trường sinh thái.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, để hiện thực hóa khát vọng ấy, việc xây dựng các cụm công nghiệp nuôi biển hay làng nuôi biển hiện đại chính là phương thức tổ chức sản xuất mang tính đột phá, giải pháp có tính cách mạng, nhằm phát triển nuôi biển trở thành ngành kinh tế sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam. Ảnh: Hồng Thắm.
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam. Ảnh: Hồng Thắm.

Hình hài các cụm công nghiệp nuôi biển giữa đại dương

Các cụm công nghiệp nuôi biển là không gian sản xuất thủy sản tập trung, có ranh giới địa lý xác định rõ ràng, với cơ sở hạ tầng hiện đại được đầu tư đồng bộ, đồng thời tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sản xuất nuôi biển. Hạ tầng này được các tập đoàn và doanh nghiệp lớn đầu tư theo hướng chuyên nghiệp, nhằm thu hút các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ hợp tác thuê lại từng phần để tiến hành các hoạt động sản xuất - kinh doanh nuôi biển.

Các cụm công nghiệp nuôi biển được cấu thành từ hai bộ phận chính, gồm: Cơ sở hạ tầng sản xuất thủy sản trên biển và cơ sở hạ tầng dịch vụ tổng hợp trên bờ. Hai bộ phận này có mối liên kết hữu cơ, chặt chẽ, không thể tách rời, đồng thời là điều kiện quan trọng để các cụm công nghiệp nuôi biển hình thành và vận hành hiệu quả.

Hành trình chinh phục biển không còn chỉ là mở rộng không gian sản xuất, mà còn là kiến tạo một tương lai hài hòa giữa kinh tế, môi trường và con người. Ảnh: Duy Học.
Hành trình chinh phục biển không còn chỉ là mở rộng không gian sản xuất, mà còn là kiến tạo một tương lai hài hòa giữa kinh tế, môi trường và con người. Ảnh: Duy Học.

Hạ tầng sản xuất thủy sản trên biển là hệ thống công trình kỹ thuật đặt trên biển thuộc các cụm công nghiệp nuôi biển, bao gồm các công trình hạ tầng nổi như: Khung lồng nổi, sàn thao tác nổi, sàn dịch vụ, cầu cập tàu; các công trình nổi phục vụ sinh hoạt cộng đồng như nhà điều hành, nhà ăn, nhà nghỉ, nhà vệ sinh, hệ thống đường đi nổi; các loại phao tiêu, biển báo; các công trình hạ tầng chìm như cáp neo, hệ thống dây liên kết; hệ thống lồng chìm hoặc bán chìm; hệ thống camera giám sát; các hệ thống kỹ thuật khác như cấp điện, nước ngọt, thu gom và bảo quản, xử lý chất thải; chiếu sáng công cộng; thông tin liên lạc, bảo đảm an ninh, an toàn trong suốt quá trình vận hành cụm nuôi biển.

Hạ tầng dịch vụ tổng hợp trên bờ là hệ thống công trình kỹ thuật đặt trên đất liền hoặc các đảo lớn, phục vụ hoạt động sản xuất, chế biến và hậu cần nghề nuôi biển. Hệ thống này bao gồm cơ sở làm sạch, sơ chế, chế biến hải sản, nhà máy thức ăn thủy sản, kho lạnh, cấp đông, vật tư và thiết bị nuôi biển chuyên dụng.

Bên cạnh đó là các dịch vụ hỗ trợ như chợ đầu mối, sàn đấu giá hải sản, ngân hàng, tài chính, trung tâm nghiên cứu - chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, khu dân cư và công trình công cộng phục vụ người lao động..., tạo nền tảng đồng bộ cho sự phát triển của ngành nuôi biển công nghiệp.

Chủ đầu tư các cụm công nghiệp nuôi biển là đơn vị thực hiện đầu tư (doanh nghiệp, hợp tác xã, ban quản lý cụm/khu công nghiệp hoặc trung tâm phát triển cụm công nghiệp) xây dựng, quản lý và khai thác hạ tầng kỹ thuật của các cụm công nghiệp nuôi biển. Hiện có hai mô hình chủ đầu tư chính.

Đòn bẩy tháo gỡ những tồn tại kéo dài

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng nhấn mạnh: “Việc phát triển các cụm công nghiệp nuôi biển có thể góp phần tháo gỡ nhiều tồn tại của nghề nuôi biển hiện nay”.

Trước hết, do được khảo sát kỹ lưỡng và được cấp phép trong vùng quy hoạch nên mô hình này sẽ góp phần chấm dứt tình trạng phát triển tự phát của nuôi biển - yếu tố đang gây mất cân bằng, tác động đến kinh tế, môi trường và hệ sinh thái.

Việc thuê cơ sở hạ tầng hiện đại đã làm sẵn tại các cụm công nghiệp nuôi biển cũng giúp doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ ngư dân giảm áp lực vốn đầu tư ban đầu, hạn chế gánh nặng nguồn lực tài chính cho hoạt động đầu tư lồng bè nuôi trồng và sản xuất kinh doanh hải sản.

Tình trạng cư trú tự phát trên biển cũng sẽ từng bước được kiểm soát tốt hơn. Lao động tại các cụm công nghiệp nuôi biển sẽ mang tính chuyên nghiệp như trong các khu công nghiệp.

Mô hình cụm công nghiệp nuôi biển cũng thúc đẩy việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất tốt trong toàn cụm; giúp hình thành sản lượng hải sản nuôi lớn, tập trung, đồng đều về tiêu chuẩn chất lượng, qua đó nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Tình trạng quá tải môi trường biển cũng sẽ từng bước được cải thiện thông qua việc kiểm soát hợp lý mật độ nuôi, phát triển mô hình nuôi tích hợp đa loài nhằm giảm thiểu chất thải hữu cơ, đồng thời ứng dụng hệ thống tự động giám sát môi trường biển.

Mô hình cụm công nghiệp nuôi biển hay làng nuôi biển hiện đại là xu thế phát triển tất yếu. Ảnh: Hồng Thắm.
Mô hình cụm công nghiệp nuôi biển hay làng nuôi biển hiện đại là xu thế phát triển tất yếu. Ảnh: Hồng Thắm.

Các cụm công nghiệp nuôi biển sẽ được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, chứng nhận đạt chuẩn, tạo cơ sở để hoạt động nuôi biển được thừa nhận là tài sản hợp pháp, đủ điều kiện tham gia bảo hiểm, thế chấp, cầm cố, hợp tác, góp vốn hoặc thừa kế. Qua đó, người nuôi biển có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, thay vì phải tự gánh toàn bộ rủi ro như mô hình nuôi biển thủ công hiện nay.

Ngoài ra, các cụm công nghiệp nuôi biển còn tạo điều kiện thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và nhiều công nghệ tiên tiến khác; nhất là khi nuôi biển được tích hợp với các ngành kinh tế biển như du lịch, điện gió, dầu khí, khai khoáng biển và vận tải biển.

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng khẳng định, phát triển nuôi biển công nghiệp Việt Nam là cuộc cách mạng đột phá cho kinh tế biển Việt Nam, không phải câu chuyện riêng của ngành thủy sản mà là sự nghiệp chung của toàn bộ hệ sinh thái kinh tế biển.

Những cụm công nghiệp nuôi biển hay làng nuôi biển hiện đại không chỉ là khát vọng của ngành nuôi biển, mà còn là tầm nhìn cho một Việt Nam mạnh về biển, giàu từ biển và vững vàng vươn ra đại dương bằng ý chí, niềm tin chinh phục biển khơi và tư duy phát triển thời đại mới.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam