vsalogo

Kỹ sư địa chất Lê Bền: HIỆP SĨ RONG NHO

Ngày đăng: 15/11/2020
Rong nho (Caulerpa lentillifera) là loại thực phẩm bổ dưỡng chứa nhiều vitamin A, C và các vi lượng khoáng thiết yếu cho cơ thể, được trồng nhiều tại Nhật Bản và Philippines. Kỹ sư Lê Bền là một trong những người đầu tiên trồng rong nho thành công tại Việt Nam, góp phần phát triển một ngành hàng mới tràn đầy tiềm năng phát triển và làm sống lại những đìa tôm bỏ hoang. Ông xứng đáng với danh hiệu Hiệp sĩ Rong nho.

Bén duyên với rong nho

      Ông Lê Bền là kỹ sư ngành địa chất, chuyên xuất khẩu đá granite ốp lát xuất khẩu  sang  các  nước.  Trong thời gian kinh doanh đá ốp lát, kỹ sư Lê Bền thường tiếp xúc với người Nhật. Nhiều lần dùng cơm với các đối tác Nhật, ông thường nghe họ nhắc đến một loại rong biển ngon và bổ dưỡng, tên tiếng Nhật là umi budou, được người Nhật ưa thích, giá mỗi kg hơn 100 USD, nhưng không có ở Việt Nam. Ông Bền nảy ra ý tưởng đem loài rong biển này về trồng tại các đìa nuôi tôm của mình ở thôn Đông Hà, Ninh Hải, huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa).

      Năm 2004, nhận được 200gr rong nho giống cùng như tài liệu hướng dẫn nuôi trồng từ người bạn tại Nhật. Hứng khởi, ông Bền bắt tay ngay vào việc nhân giống trong các bể kính. Rong nho sinh trưởng tốt, khi có trong tay lượng giống đủ nhiều, ông chuyển qua canh tác ở các đìa ao nuôi tôm sú bỏ hoang ở phường Ninh Hải, Ninh Hoà, Khánh Hoà.

      Nhưng chỉ sau vài ngày, rong nho chưa kịp phát triển đã bị tôm, cua, cá ăn hết. Những cây rong nho giống ít ỏi hao hụt dần. Ông lo lắng không biết phải học tập kinh nghiệm ở đâu, vì Việt Nam chưa có ai trồng, nhiều người cũng khuyên nên dừng lại.

Tìm cách trồng mới

      Tại Nhật, rong nho biển được trồng theo 2 cách truyền thống : trồng tiếp đáy (trồng thẳng xuống đáy biển hoặc đìa) và trồng treo (rong được bọc trong túi lưới thả treo lơ lửng trong nước biển). Cả 2 cách trên đều có những hạn chế.

      Nếu trồng tiếp đáy thì rong nho biển dễ nhiễm bẩn và bị giẫm đạp lên khi thu hoạch, còn trồng treo thì rong sẽ không hút được chất dinh dưỡng từ bùn đất dẫn đến kém phát triển. Vậy nên, ông tìm cách kết hợp cả hai phương án này và đã sáng tạo ra phương pháp mới.

      Cụ thể, rong nho được ông trồng trong các khay nhựa, bên trong lót nilon để chứa mùn cát. Các khay giống được đặt kê trên kệ sạp đóng bằng tre gỗ, đặt chìm dưới đáy đìa. Trên mặt đìa, ông dùng lưới che nhằm chủ động điều tiết ánh sáng, nhiệt độ nước biển. Để tăng cường lượng oxy hòa tan trong nước giúp cây rong phát triển tốt hơn, ông còn sử dụng guồng đập làm xáo trộn dòng chảy.

      Với cách trồng này, rong nho biển hấp thụ được chất dinh dưỡng từ bùn đất trong khay mà không bị nhiễm bẩn bởi những tạp chất dưới đáy đìa. Mặc khác, lưới che di động phía trên hạn chế được nắng nóng. Nhờ vậy nên chi phí đầu tư thấp, sản phẩm làm ra giá rẻ hơn rất nhiều so với ở Nhật và Philippines.

      Phương pháp này đã tận dụng được nguồn nguyên liệu rẻ tiền (tre, gỗ tạp, lồ ô…) và nguồn tài nguyên vô tận sẵn có ở địa phương là nước biển và năng lượng mặt trời. Chi phí thấp, cách trồng đơn giản, hiệu quả rất cao: rong sau khi trồng từ 15 - 20 ngày là thu hoạch được với chất lượng sản phẩm cao hơn nhiều so với trồng tại Nhật Bản.

                                                                                              Mô hình trồng rong nho hiện đại.                       Kiểm tra chất lượng rong nho tại nhà máy. Ảnh: NVCC

        Kết quả sau 2 tháng, chiều dài cọng rong nho dài 10cm, trong khi ở Nhật sau 3 tháng mới được 5cm. Năng suất đạt 30 tấn/ha/năm, gấp 2 lần so với Nhật Bản và Philippines. Sản phẩm mang đến cơ quan chức năng kiểm tra, sạch không lẫn tạp chất, mùi vị ngon hơn trong khi chỉ tốn chi phí bằng một phần mười so với cách trồng tại Okinawa.

        Ông Yamaguchi, kỹ sư giám sát cho biết, rong nho biển trồng ở Việt Nam sinh trưởng tốt hơn ở Nhật, cọng rong dài, trái to và mùi vị đậm hơn; giá thành lại thấp nên có sức cạnh tranh tại thị trường Nhật.

        Không dừng ở đó, ông Bền đã giới thiệu kỹ thuật mới cho bà con trong vùng, nâng diện tích trồng rong nho tại địa phương lên 300 ha. Trong hơn 10 năm đã hình thành một ngành hàng mới, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người, giúp hồi sinh cả một vùng đìa nuôi tôm đã bị bỏ hoang sau cao trào nuôi tôm thất bại.

Xuất khẩu rong nho sang Nhật

      Sau khi trồng thành công, ông Lê Bền liên hệ với các đối tác người Nhật để tìm đầu ra cho sản phẩm rong nho biển của mình. Phía công ty Nhật đã cử chuyên gia sang trực tiếp giám sát quy trình nuôi trồng và chế biến.

      Năm 2006, lô hàng rong nho đầu tiên xuất sang Nhật Bản. Nhờ chất lượng tốt, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn kiểm định của FDA (Mỹ), nên rong nho Khánh Hòa dần phủ sóng ở Mỹ, Tây Ban Nha, Đài Loan (Trung Quốc), Singapore, Hàn Quốc.

       Người Nhật vốn kỹ tính nên cử kỹ sư sang tận nơi giám sát cách trồng của ông và đem mẫu về Nhật Bản kiểm tra lại trước khi xuất khẩu những lứa rong đầu tiên. Bây giờ họ đã hoàn toàn tin Việt Nam trồng được rong nho năng suất hơn xứ mặt trời mọc.

       Mỗi năm công ty sản xuất được trên 100 tấn rong nho, 67% sản lượng xuất khẩu, trong đó Nhật chiếm 50%. Doanh thu từ sản phẩm rong tươi và rong tách nước mỗi năm trên 10 tỷ đồng. Giá xuất khẩu bình quân 8-10 USD mỗi kg (FOB), bán trong nước 150.000-200.000 đồng.

       Để đảm bảo các tiêu chuẩn sản phẩm, ông Bền đầu tư hệ thống nhà xưởng, trang thiết bị máy móc tiên tiến chế biến sản phẩm rong nho sạch đạt tiêu chuẩn HACCP. Anh Lê Minh Trí, con trai ông Bền cũng từ bỏ công việc kiến trúc sư về giúp sức cha.

       Hiện tại, Công ty Centus (Nhật Bản) đang nhập rong nho biển do công ty của ông Bền trồng với giá 8-10 USD/kg (giá tại Okinawa, địa phương duy nhất của Nhật trồng được rong nho biển, là trên 100 USD/ kg).

Sản phẩm rong nho của Trí Tín

Hướng đến giải pháp phát triển bền vững

      Kỹ sư Lê Bền hiện là Phó Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA), được giao nhiệm vụ phụ trách khu vực miền Trung và ngành rong biển. Tại nhiều hội nghị, hội thảo, hội chợ trong và ngoài nước ông khẳng định ngành rong biển Việt Nam còn tiềm năng rất dồi dào để phát triển vượt bậc.

Kỹ sư Lê Bền - Công ty TNHH Trí Tín, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA).

       Với bờ biển dài 3.260 km và diện tích mặt biển khoảng 1 triệu km2, Việt Nam có tiềm năng để phát triển ngành rong biển, đặc biệt là khu vực miền Trung có bờ biển đá và dải biến thiên nhiệt độ hẹp. Tại Việt Nam đã xác định được 800 loài rong biển thuộc 4 ngành, trong đó, ngành rong đỏ chiếm hơn 400 loại, ngành rong lục chiếm 180 loại, ngành rong nâu hơn 140 loại và ngành rong lam gần 100 loại. Trong đó có 90 loài mang lại giá trị kinh tế.

       Theo một số nghiên cứu, diện tích tiềm năng trồng rong biển ở Việt Nam vào khoảng 900.000 ha (tương đương với sản lượng 600 – 700.000 tấn khô/năm). Thế nhưng, năm 2015, ước tính diện tích trồng rong biển cả nước mới đạt 25.000 ha, sản lượng rong tươi đạt 35.000 tấn. Phần lớn, rong biển được sử dụng làm thực phẩm ăn tươi hoặc chế biến thành các sản phẩm gia tăng như thạch, mứt…

       Rong biển còn có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái biển, như tham gia vào các chu trình dinh dưỡng của thủy vực, là nơi sống, trú ẩn, kiếm ăn của nhiều loài sinh vật biển nhất là thời kỳ con non, rong biển còn có giá trị lớn đối với đời sống con người như cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến (sản xuất agar, alginat, carrageenan…), làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất phụ trợ cho nhiều ngàn công nghiệp khác.

       Mặc dù có điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng, chế biến rong biển, nhưng ngành này cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Đó là ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, sản phẩm chưa đa dạng, sản xuất nhỏ lẻ và manh mún, chưa có công nghệ chế biến và quy hoạch cụ thể.

       Theo TS. Lê Thị Hường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, để phát triển bền vững ngành rong biển, cần có kế hoạch hành động phù hợp. Phát triển đồng bộ các khâu sản xuất nguyên liệu và chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ rong biển đảm bảo, hiệu quả, năng suất cao và chất lượng sản phẩm phù hợp nhu  cầu  của  thị  trường.  Phát  triển  trồng 7 loài rong biển có hiệu quả kinh tế cao và xem xét nhập nội một số loài mới có giá trị, như rong Ulva và Meristotheca papilosa. Chú ý phát triển các phương thức, quy mô, công nghệ trồng phù hợp với từng loài, từng vùng sinh thái, ưu tiên phát triển các loài rong có hàm lượng agar, carrageenan, alginate cao.

       Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, các hệ thống chứng nhận. Phát triển các vùng nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, an toàn sinh học, an toàn môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu.

       Ông Bền nhấn mạnh, ở những vùng thiếu nước ngọt để trồng rau xanh như Hoàng Sa, Trường Sa... thì việc trồng rong nho biển làm thực phẩm rất phù hợp. Do có thể bảo quản lâu nên sản phẩm rong nho biển dễ dàng vận chuyển đến những vùng xa xôi hẻo lánh, những vùng hải đảo thiếu nước ngọt không trồng được rau xanh.

       Ông Lê Bền cũng lưu ý rằng, rong nho và các loài rong biển có sức hấp thụ rất nhanh và mạnh các chất có trong nước biển. Vì vậy cần trồng rong ở các vùng biển sạch, cách xa nơi sản xuất công nghiệp và khu dân cư để tránh bị nhiễm bẩn bởi các tạp chất.

       Trước hết, cần nhanh chóng xây dựng Đề án phát triển ngành rong biển Việt Nam đến năm 2030, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và có sự tham gia của Nhà nước và người dân. Và cần biết mấy những Hiệp sĩ Ngành Rong Việt Nam như kỹ sư địa chất Lê Bền!

Bạn cần đăng nhập để bình luận