vsalogo

Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Bắc và trăn trở của đơn vị sản xuất giống hải sản công lập

Ngày đăng: 10/10/2018
(VSA - 10/10/2018) Trung tâm Quốc gia Giống hải sản Miền bắc bao gồm hai (02) cơ sở, Cơ sở 1 tại Xuân Đám, Cát Bà và Cơ sở 2 tại Hải Thành, Dương Kinh, Tp. Hải Phòng. Hiện tại, cả hai cơ sở này đều trực thuộc quyền quản lý của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1 (RIA1).

Tiền thân của Cơ sở Hải Thành là Trạm nước lợ của Viện nghiên cứu Hải sản, thành lập từ khá lâu, và qua nhiều thay đổi. Cơ sở sản xuất giống tại Xuân Đám có tuổi đời trẻ hơn, được xây dựng vào năm 2005 và bắt đầu đưa vào sử dụng từ 2007 với 20 cán bộ, công nhân viên, quy mô của trại là 25 ha. Nhiệm vụ chính của cơ sở này là thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến chọn giống, sản xuất giống cá biển và một số đối tượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ biển khác như hàu Thái Bình Dương,... Bên cạnh đó, trạm cũng thực hiện một vài hoạt động nuôi thử nghiệm thương phẩm cá biển ở quy mô nhỏ.

Gặp và trao đổi với tiến sĩ Vũ Văn In, phụ trách Trung tâm tại văn phòng ở Dương Kinh, Tp. Hải phòng, ông cho biết: "Hiện nay, trại Xuân Đám đang tập trung nghiên cứu, sản xuất một số đối tượng cá biển nuôi có giá trị kinh tế cao như một số loài cá song, cá mú (cá song chanh, song chấm nâu, song hổ, song lai), cá giò, cá nhụ, cá vược. Vì là cơ sở trực thuộc viện nghiên cứu, nên hiện nay, chủ yếu Trung tâm thực hiện các nhiệm vụ được giao là các đề tài, dự án về sản xuất giống cá biển, nên sản lượng con giống hàng nâm do trung tâm sản xuất cũng chưa nhiều, chỉ vài vạn con mỗi loài".

Khi được hỏi về thị trường tiêu thụ cá giống, TS. In bổ sung thêm: "Thị trường chủ yếu đối với con giống được sản xuất ra ở đây vẫn là các tỉnh miền bác Việt Nam như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và một số tỉnh khác như Thanh Hoá, Bà Rịa Vũng Tàu, Khánh Hoà, đặc biệt là giai đoạn 2008 - 2011, khi nhu câu con giống cá giò ở các tỉnh phía nam táng cao".

Giống cá song lai Hệ thống bể phục vụ cho việc ương nuôi cá giống

Nhằm "thực mục sở thị" quy mô, hiện trạng và tình hình hoạt động của trạm Xuân Đán, tôi đã bắt xe bus từ tp. Hải Phòng ra đảo Cát Bà. Cái nhìn đầu tiên là một cơ sở sản xuất giống cá rất quy mô, được quy hoạch tốt, sắp xếp khá khoa học, với hệ thống ao ương nuôi, hệ thống bể các loại (xi măng, composit, nhựa...) cho việc ương cá bột, cá giống và thức ăn tự nhiên (giáp xác chân chèo, luân trùng.).

Hệ thống bể phục vụ cho việc ương nuôi cá giống được chia thành các dãy, hàng với kích cỡ tương tự nhau, đặt trong nhà có mái che.

Anh Nguyễn Đức Tuấn, phụ trách ương nuôi giống cá biển chia sẻ: "Hiện nay, cơ sở đỡ chuyên môn hoá, ví dụ, việc nuôi giữ nguồn cá bố mẹ, chọn giống, cho đẻ ngoài bè do một nhóm cán bộ phụ trách; trong khuôn viên trại này chỉ thực hiện việc ương và nuôi cá giống. Nhiệm vụ chính của trạm vẫn là triển khai các đề tài, dự án, các thí nghiệm, thực nghiệm. Tuy nhiên, do chỉ có 10 biên chế trong tổng số 20 người được "bao cấp lương" nên anh em phải sản xuất thêm để có thu nhập cho mọi người và bằng nguồn kinh phí anh em đóng góp thêm để làm việc này'".

Về sản lượng cũng như trình độ khoa học công nghệ liên quan, quy mô trang trại sản xuất giống, anh Tuấn cho hay: "Sản lượng cá giống hiện nay cung cấp ra thị trường không nhiều, chỉ vài chục vạn con các loại mỗi nám. Thực tế thì cơ sở này hoàn toàn có thể làm chủ khoa học, công nghệ cho sinh sản một số loài cá biển như cá giò, cá song, cá chim vây vàng, cá nhụ,... tuy nhiên, hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô và mùa vụ của thị trường tiêu thụ".

Ngoài ra, khó khăn mà các trại sản xuất giống cá biển ở phía Bắc gặp phải là ảnh hưởng của mùa gió đông bắc vào mùa đông. Anh Tuấn chia sẻ: "Một số trại giống của Trung Quốc có quy trình khép kín, kiểm soát được nhiệt độ khu vực 

ương nuôi, nên có thể chủ động được nguồn giống mà không bị phụ thuộc thời tiết, khí hậu. Đương nhiên, điều này đòi hỏi phải có sự đâu tư cơ sở hạ tâng thỏa đáng".

Có lẽ điều mà anh Tuấn, một kỹ sư trẻ, "lành nghề" sinh sản cá biển còn đang trăn trở là "cơ chế", anh cho biết: "Chúng tôi rất cân có cơ chế rõ ràng, minh bạch, và tự chủ là cân thiết, điều này nhằm đảm bảo cho việc hài hoà lợi ích giữa người lao động và cơ quan quản lý và cũng tạo được các khu­yến khích hay động lực cho người lao động làm việc hiệu quả, có trách nhiệm hơn".

Vũ Văn In cũng cho hay: "Chúng ta nên học tập một số quốc gia trong khu vực về việc quản lý, chuyên môn hoá việc sản xuất giống, ví dụ như Philippine, có người chuyên cho cá đẻ và cung cấp trứng đỡ thụ tinh, có người thì chuyên ương ấp cá giống".

Tìm hiểu thêm về một số nhiệm vụ, đề tài, dự án mà cơ sở Xuân Đám đang đảm nhận, TS. In cho biết: "Trại giống Xuân Đám đang tham gia triển khai Dự án FIRST liên quan đến quản lý đàn cá chim bố mẹ, do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý, nguồn vốn vay ODA từ Ngân hàng Thế giới; Dự án hợp tác với Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Úc (ACIAR) về sinh sản giống, nuôi thương phẩm, giám sát môi trường, bệnh, sản xuất theo mô hình đảm bảo vệ sinh đối với Hàu Thái Bình Dương; bên cạnh đó Trung tâm cũng đang có một Dự án khác với ACIAR về việc phát triển công nghệ sản xuất cá biển giống cá song lai, cá song vua, về nuôi vỗ, định tính định lượng hormone, kích thích, ương nuôi...".

Bể ương cá bố mẹ

Tuy vậy, việc triển khai các ng­hiên cứu, thử nghiệm trong phạm vi các đề tài, dự án, thậm chí là chương trình thì vẫn mang nặng tính nghiên cứu, quy mô về thời gian, không gian rất hạn chế, đặc biệt là việc ứng dụng, duy trì các sản phẩm của các đề tài, dự án này quả thực là một vấn đề đối với Trung tâm, bởi phải cần có nguồn lực tài chính, nhân lực cho việc này.

Sau 45 phút đi đò máy từ Bến Bèo, qua hàng loạt "nhà nổi" với các bè nuôi cá lồng ở vịnh Lan Hạ, tôi đến "nhà bè" của Trung tâm Quốc gia Giống hải sản miền bắc, trực thuộc cơ sở Xuân Đám.

Đón tiếp tôi là anh Phạm Văn Thìn, với nụ cười rạng rỡ, nước da của "dân biển" nhưng vẻ mặt rất hiền của dân khoa học thuỷ sản, anh chia sẻ rằng anh là người phụ trách ở đây, với hàng trăm ô lưới lồng khung gỗ. Cuộc sống của anh gắn bó với những ô lồng này đã trên 10 năm, mặc dù ở gần nhà (quê anh ở Cát Bà) nhưng anh cũng ít có dịp về thăm gia đình, phần vì bận, phần vì đi lại cũng không được thuận tiện, mỗi lần đi ra đi vào lại phải thuê đò.

Anh cho biết, với 100 ô lồng có kích thước 3,0 X 3,0 X 3,5 m, thì 80% số lồng được nuôi giữ cá bố mẹ, chủ yếu là cá song, cá mú, cá giò, cá nhụ, cá chim, cá gáy biển và thường thì có 4-5 nhân công thường trực trên bè này. So với quy mô nuôi cá thương phẩm của các hộ dân xung quanh, tôi thấy, nhà bè của Trung tâm khang trang hơn, và được bố trí ngăn lắp, rộng rãi, có tiện ích cho anh em làm việc, song quả thực, là hơi xa đất liền so với các hộ nuôi. Có lẽ, ra xa hơn để có môi trường tốt hơn và cũng tránh bớt rủi ro lây bệnh từ các hộ nuôi cá thương phẩm. Theo quan sát trực tiếp cũng như phỏng vấn các hộ nuôi ở đây, gần như 100% cá nuôi sử dụng thức ăn tự nhiên hay cá tạp, cá xay, tuỳ từng giai đoạn phát triển cuả cá nuôi.

Anh Phạm Văn Thìn

Anh cho biết: "Hiện nay, số lượng cá bố mẹ của Trung tâm vẫn còn hạn chế và rất xa so với nhu câu của thị trường về nguồn giống cá nuôi. Những đàn cá bố mẹ là sản phẩm của các đề tài, dự án sẽ được lưu giữ lại. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cân có kinh phí, hạ tâng, nhân lực để làm việc này. Nếu có thể, có các nhà đâu tư hoặc đối tác cùng nghiên cứu, sản xuất con giống cá biển sẽ là những cơ hội tốt cho cả đôi bên, bởi Trung tâm là đơn vị có nhiều kinh nghiệm, có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và có cơ sở hạ tâng sân có".

Khi được hỏi về các trăn trở đối với cái "nghề cho cá đẻ" của mình, anh bộc bạch: "Một trong những khó khán hiện nay, không chỉ riêng với Trung tâm này, mà với tất cả các hộ nuôi cá biển trong khu vực Vịnh Lan Hạ, Cát Bà là vấn đề quyền sử dụng mặt nước. Theo chủ trương của Tp. Hải Phòng, mỗi nám sẽ giảm 10-20% số lượng hộ nuôi cá biển trong vịnh để bảo vệ môi trường, xây dựng các khu dự trữ sinh quyển hay vườn quốc gia. Do đó, số hộ nuôi này sẽ phải hoặc là đổi nghề khác hoặc là di rời đi nơi khác. Ngay cả Trung tâm giống này, thì quyền sử dụng mặt nước cho nuôi cá bố mẹ hiện nay cũng chưa được cấp chính thức. Vì vậy, vấn đề sống còn đối với trung tâm này là phải có diện tích để nuôi giữ, thuần hoá, nuôi vỗ đàn cá bố mẹ ở nơi an toàn, bền vững".

Đồng tình với các ý kiến khác, anh Thìn khẳng định: "Phải có cơ chế, quyền tự chủ, hoạt động dưới dạng doanh nghiệp độc lập, thì mới có thể thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất giống cá biển của Trung tâm. Nếu chúng ta không phát triển mảng này, Việt Nam có thể là mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp sản xuất giống cá biển của Trung Quốc. Trung Quốc sản xuất giống cá song, cá chim rất tốt và có nhiều cơ sở ở đảo Hải Nam rất thuận tiện cho việc bán cá giống sang Việt Nam".

Chia tay các anh, những đồng nghiệp đã và vẫn đang"lặn lội"với
nghiệp thuỷ sản, tôi thấy còn bao nhiêu khó khăn, thách thức mà các anh đang phải lo nghĩ, từ việc ngày mai mình sẽ đặt hệ thống bè, lồng nuôi ở đâu? Có gần đất liền để thuận tiện tiếp nhận, giao dịch hay không? Có an toàn cho đàn cá bố mẹ hay không? Đây là những yếu tố mang ý nghĩa sống còn với ngành, bởi nếu không chủ động được con giống, thì chúng ta sẽ làm gì? Sẽ phụ thuộc vào ai?

Và cơ chế nào cho các Trung tâm, các trại, các cơ sở sản xuất giống cá biển, thuỷ hải sản quốc gia - các đơn vị "công lập" có thể phát triển, đổi mới, có động lực để làm việc thực sự, hoạt động
có hiệu quả như mong mỏi của toàn thể cán bộ, công nhân viên, tránh được hiện tượng "chảy máu chất xám"?

Những trăn trở của các anh đã biến thành những câu hỏi luẩn quẩn trong đầu tôi, đang chờ những lời giải đáp trong thời gian tới. Hy vọng rằng, các cơ quan hữu quan về quản lý tài nguyên môi trường biển và của ngành thuỷ sản sẽ cho họ, những con người của khoa học công nghệ đang sống bằng "nghề cá biển" những câu trả lời thích đáng nhất./.

Bài và ảnh: Nguyễn Bá Thông

 

Bạn cần đăng nhập để bình luận