Hiệp Hội Nuôi Biển Việt Nam
vsalogo

TIẾP CẬN HỢP LÝ HƠN VỚI NUÔI HẢI SẢN NGOÀI KHƠI

Ngày đăng: 06/11/2020
Mặc cho những bất cập như giá thành cao, kích cỡ cồng kềnh, nhiều hệ thống chưa đảm bảo được điều kiện thoải mái cho cá hay chưa thể thu hồi vốn giá thi công và vận hành, vẫn có rất nhiều người ủng hộ hệ thống lồng lưới nuôi cá hiện hành.

Tuy nhiên, ông John Fitzgerald – nhà sáng lập và tổng giám đốc Công ty Impact 9 tin rằng sẽ có một thiết kế giá rẻ hơn và thông minh hơn thay cho các cấu trúc bằng thép cồng kềnh hiện nay trong bối cảnh các nước như Na Uy và Trung Quốc đang lắp đặt nhiều thiết kế nuôi biển công nghiệp ngoài khơi. Hiện nay, ông đang trong quá trình phát triển một hệ thống lồng lưới thực sự độc đáo nhưng lại rất quen thuộc và có giá cả phải chăng đối với người nuôi biển. Mặc dù hệ thống hiện vẫn đang trong giai đoạn phát triển nhưng nó đã thu hút được sự chú ý của người nuôi và các nhà sản xuất thiết bị trên thế giới.

Kinh nghiệm từ hệ thống neo giữ

Mặc dù mới tiếp cận nuôi trồng thủy sản nhưng ông Fitzgerald vốn đã có nhiều kinh nghiệm liên quan đến ngành năng lượng tái tạo hàng hải, vì nghề chuyên môn của ông là phát triển hệ thống neo giữ cho các thiết bị hoạt động ở những khu vực biển nông có sóng lớn ngoài khơi.

Ông chia sẻ: “Thời điểm Na Uy cấp phép cho nhiều sáng chế thể hiện rõ rằng nuôi trồng thủy sản đang tiến ra biển lớn. Các hệ thống khổng lồ như Ocean Farm 1 (do Trung Quốc chế tạo theo đơn đặt hàng của Na Uy) đã được đóng và đi vào vận hành, nhưng với tôi dường như những hệ thống này có vấn đề với công nghệ sóng lớn. Tôi nghĩ điều này đã mở một hướng đi mới cho tôi.”

Vấn đề ở đây chính là nhu cầu lắp đặt và vận hành một cấu trúc lớn ngoài khơi với nguồn lực hạn chế. Tôi đã dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp của mình để giải quyết vấn đề này với hai tiêu chí: thứ nhất, thiết kế những kết cấu theo dạng sóng với những bộ phận linh hoạt để giảm thiểu giá thành và áp lực lên cấu trúc; thứ hai là triển khai các cấu trúc có thể dễ dàng tháo dỡ và kéo về bờ bằng tàu nhỏ. Việc này sẽ loại bỏ được việc duy tu và bảo trì ngoài khơi rất tốn kém, đặc biệt là việc triển khai thợ lặn và các cần cẩu,” ông Fitzgerald nói thêm.

Khi những thiết kế sơ bộ bắt đầu thành hình, ông Fitzgerald đã nhận được sự hỗ trợ thông qua Protoatlantic. eu (một công ty công nghệ về hàng hải của Châu Âu) để tiếp cận hệ thống đánh giá của Đại học Cao đẳng Cork (UCC) của Ireland. Việc đó giúp ông phát triển hệ thống và bảo vệ một số IP cho các thành phần then chốt của thiết kế - một vòng đệm lưới chìm, đàn hồi ổn định bao quanh một trung tâm neo giữ tập trung (và có thể ngắt kết nối từ xa).

Sau hội thảo do Cục Phát triển Hải sản Ireland (BIM) tổ chức, ông đã trở thành thành viên của Công ty Hatch, giúp ông tiếp cận Bergen (Na Uy), Singapore và Hawaii và cung cấp nguồn vốn và sự hướng dẫn cho ông.

Tham gia vào Hatch đồng nghĩa với việc từ một người ngoại đạo vào hè năm 2019 tôi đã được thảo luận các ý tưởng của mình với những người có tầm ảnh hưởng nhất ngành nuôi trồng thủy sản vào đầu năm 2020 – Đây quả là một điều vô giá,” TS. Fitzgerald cho biết.

Chính các lồng lưới truyền thống đã gợi cho ông phát triển hệ thống của mình chứ không phải những kết cấu thép khổng lồ do Na Uy thiết kế.

Ông cho rằng: “Các giải pháp mới  nổi của Na Uy dường như đang loại bỏ các bộ phân linh hoạt của các thiết kế lồng nuôi khi đưa ra biển, có thể là do trong ngành dầu khí chưa từng có tiền lệ với cấu trúc HDPE. Họ kết luận rằng các mô hình vẫn sẽ duy trình hạ tầng kiểu dầu khí như cũ, và tôi nghĩ đây là những sai lầm cơ bản nếu như họ muốn cạnh tranh với thế giới.”

Phải biết chấp nhận lý do tại sao hầu hết các lồng lưới đã tiến tới sử dụng cấu trúc vòng đệm linh hoạt thay vì dùng những giải pháp khác. Kinh nghiệm nhiều năm trong ngành kỹ thuật hàng hải đã dạy cho rồi rằng tính linh hoạt của hệ thống là một trong những phương cách quan trọng để giảm sự cồng kềnh và điều này đặc biệt quan trọng đối với những vùng nước ngoài khơi tương đối nông, như vùng biển ngoài khơi Scotland,” TS. giải thích thêm.

Tiến sĩ chia sẻ: “Các ống nhựa linh hoạt được dùng trong các lồng nuôi truyền thống là một giải pháp đơn giản mà tinh tế đối với điều kiện ngoài khơi và tôi đã quyết định gia tăng tính linh hoạt. Nhắc đến điều đó là nhắc đến yêu cầu phải kết hợp tính linh hoạt với cách người nuôi tương tác với cấu trúc.” Các thiết kế của ông nhằm tạo thuận lợi cho việc thao tác vận hành trên lồng trong khi giảm thiểu nhu cầu tương tác với các tàu dịch vụ lớn ngoài khơi. 

Mặc dù thiết kế của ông kế thừa nhiều nguyên tắc của hệ thống thông thường, nó vẫn có điểm ngược với hệ thống truyền thống. Chính là lật ngược vòng đệm để nó không còn dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực do biển động tạo ra nữa. Vòng đệm còn có thể điều chỉnh để thay đổi hình dạng lưới – giúp các hoạt động vận hành như lùa cá, trị liệu, thu hoạch, vệ sinh lưới, thay lưới và lọc chất thải không còn quá phụ thuộc vào thợ lặn. Hệ thống còn cung cấp một phương tiện dìm lưới đơn giản để giúp giữ cá dưới lớp nước mà rận biển, tảo và sứa thường hoạt động.

“Ngoài ra, cách tiếp cận này có thể tích hợp nhiều thiết kế mặt trên  tùy theo loài nuôi và lựa chọn của người vận hành, từ cấu trúc không mặt trên đến cấu trúc có gắn một ống lặn lên bề mặt hay cấu trúc hứa hẹn nhất với các công trình ngoài khơi là một nền tảng vận hành an toàn và vững chắc với một moonpool (hầm thông nước) trực tiếp trên bể chứa.” TS. giải thích.

Mục đích cuối cùng của Fitzgerald là hiện thực hóa một thiết kế bao gồm một hệ thống cho ăn tích hợp, nhằm loại bỏ xà lan nạp thức ăn trên các địa điểm dùng thiết kế của ông.

Tuy nhiên, theo giải thích của ông thì vẫn có thể tích hợp thiết kế lưới vào những lồng nuôi truyền thống sử dụng xà lan cho ăn tập trung. Ông cho rằng các khách hàng đầu tiên đã thử nghiệm công nghệ của ông sẽ thích điều này. Người nuôi ban đầu sẽ muốn thử sử dụng các tính năng khác nhau của thiết kế tùy theo nhu cầu, địa điểm và nguồn tài chính của họ.

Ông hi vọng thiết kế của mình có thể có giá cả phải chăng với cả những doanh nghiệp sản xuất cá hồi quy mô nhỏ. Ông cũng nghĩ rằng thiết kế sẽ rất phù hợp với những vùng biển tương đối nông ngoài khơi như bờ tây Scotland hay Ireland.

Ông nhận định: “Tôi nghĩ thiết kế của mình sẽ mở thêm các lĩnh vực mới cho ngành nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên thị trường khác nhau sẽ có những yêu cầu khác nhau. Ở Ireland, khi mà hệ thống cấp phép vẫn đang trì trệ và quy mô các nhà sản xuất vẫn còn khá nhỏ, việc cấp giấp phép mới không hiện thực vì đó dường như là thách thức lớn với các thiết bị thông thường”. “Scotland có vẻ là cái nôi nuôi dưỡng những gì tôi đang làm vì ở đây có tiềm năng phát triển và hệ thống cấp phép vẫn đang hoạt động,” ông nói thêm.

Phản ứng tích cực

Ts. Fitzgerald cũng đã nhận được những phản hồi tích cực từ các người nuôi Na Uy.

Địa lý ở Na Uy rất khác biệt tuy nhiên những người nuôi ở các vịnh hẹp mà tôi đã trò chuyện thì rất hứng thú với khía cạnh chống rận cũng như là tính khả thi của việc tích hợp phương tiện thu gom chất thải trong các lồng nuôi. Tôi mới đang bắt đầu phát triển tính năng thu gom chất thải nhưng tôi hiện đã đang cân nhắc một số các thiết kế khác nhau”- ông cho hay.

Ông cũng cảm thấy người  nuôi rất hưởng ứng với một thiết kế quen thuộc hơn với cấu trúc  lưới  nuôi hiện tại của họ. “Rất nhiều người nuôi ở Na Uy đã chú ý đến việc gấp rút ứng dụng các thiết kế trong ngành dầu khí vào nuôi trồng thủy sản theo sáng kiến cấp phép phát triển và một số người cho rằng các thiết kế không đủ đầu vào dữ liệu từ ngành nuôi trồng thủy sản. Các thiết kế này cũng không có mức giá hấp dẫn. Tôi nghĩ người nuôi phần nào đó đang cảm thấy bị tước đi quyền lợi.”

Fitzgerald hiện đang thực hiện một nghiên cứu về số liệu chi phí – kết quả của nghiên cứu sẽ giúp ông tính toán giá thành cho mỗi m3 và so sánh mức giá này với những thiết kế ngoài khơi khác.

Người nuôi của một số quốc gia hiện rất hứng thú với ý tưởng của ông và ông cũng đã duy trì liên lạc với một số nhà sản xuất phần cứng trong nuôi trồng thủy sản nổi tiếng, bao gồm GaelForce và AKVA, cũng như các doanh nghiệp khác hi vọng tích hợp hệ thống trại nuôi.

Tôi mong ý tưởng của mình đủ chín muồi để có thể nhận được sự hậu thuẫn từ một OEM (nhà sản xuất thiết bị nguyên bản), vì sau cùng tôi cũng muốn dùng phương pháp tiếp cận theo hướng hợp tác với một trong những công ty như thế,” Ts. Fitzgerald cho biết. “Đây là một hành động cân bằng tinh tế, cung cấp nguồn lực cho những ý tưởng đột phá trong ngành – nhưng nó cũng cần đến mã lực của ngành công nghiệp và khách hàng cũng mong muốn được bảo hành thương mại những phần cứng sử dụng trong trại nuôi của họ.”

Chuyển sang giai đoạn sau của dự án, ông đang hy vọng sẽ kêu gọi được 700.000 bảng Anh để thử nghiệm trên biển những bộ phận thiết kế mới cũng như cùng với khách hàng thử nghiệm chi tiết về mặt kỹ thuật các lồng nuôi trên biển. Ông hy vọng nhận được sự hỗ trợ từ người dân và những nhà đầu tư “thiên thần”, có thể bao gồm Ban Phát triển Hải sản Ireland (BIM) và Quỹ Đổi mới Hải sản (SIF) của chính phủ Anh, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 thì việc này có thể kéo dài thêm vài tháng nữa.

Hiện ông đang tìm kiếm cơ hội mới để thúc đẩy phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, nơi mà các quyết định chính trị gần đây đang mở ra nhiều cơ hội mới cho nuôi biển.

Nếu có nhóm người Mỹ nhập cuộc thì những dự án này sẽ được hiện thực hóa rất nhanh, vậy nên tôi vẫn đang rất chú ý tìm đến họ,” ông nói.

Hải Mỹ dịch

Nguồn: The Fish Site https://thefishsite.com/articles/

Bạn cần đăng nhập để bình luận