vsalogo

Tiềm năng phát triển nuôi biển kết hợp du lịch tại Việt Nam

Ngày đăng: 08/04/2019
(VSA - 04.04.19) “Du lịch Nông nghiệp” tuy mớỉ phát triển, nhưng là giải pháp hướng đến bền vững trong sự phát triển kinh tế liên ngành. Du lịch Nông nghiệp sẽ là cầu nối liên hệ giữa thành thị và nông thôn; giúp cộng đồng có thể hiểu rõ hơn về nguồn gốc cũng như quá trình tạo nên những loại thực phẩm mà họ sử dụng hàng ngày. Du lịch kết hợp Nuôi biển là hướng phát triển mới cần được chú trọng nghiên cứu và mở rộng ứng dụng ở nước ta.

Du lịch Nông nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam, quốc gia có nền văn minh Nông nghiệp ngàn đời, với xấp xỉ 70% dân số sinh sống ở các vùng nông thôn, làm việc chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nên sự kết hợp với ngành Du lịch chắc chắn sẽ mang lại nhiều lợi ích chung. “Chương trình Xây dựng Nông thôn mới” đang được Chính phủ triển khai đã mang lại những thành quả nổi bật, tạo môi trường và đòn bẩy cho phát triển du lịch nông nghiệp. Đây sẽ là cú hích mạnh mẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đồng thời cũng sẽ giúp cho công tác bảo tồn các giá trị văn hóa của vùng nông thôn hoặc giá trị của một thương hiệu sản phẩm nông nghiệp truyền thống.

Du lịch Nông nghiệp đang dần trở thành một đường hướng phát triển mới tại Việt Nam     Nguồn: Báo Pháp luật và Môi trường & Vietravel

Du lịch sinh thái gắn liền với nông nghiệp và nông thôn luôn được xác định là một trong những hướng đi chính. Từ Bắc vào Nam, có thể nhận thấy khách du lịch trong và ngoài nước xuất hiện ở những khu vực canh tác nông nghiệp mang đậm dấu ấn văn hóa như: ruộng bậc thang Tây Bắc, đồi chè Thái Nguyên, làng gốm Bát Tràng, làng tranh Đông Hồ, làng lụa Vạn phúc, cánh đồng ngô Sơn La, đồi cà phê ở Tây Nguyên hay những khu miệt vườn cây trái ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, các mô hình “Nuôi trồng thủy sản sinh thái”, đặc biệt ở vùng ven biển đang là “làn gió mới” trong DLNN ở Việt Nam.

Hiện trạng và tiềm năng lớn từ hoạt động“Du lịch Nuôi biển” tại Việt Nam

Thế kỷ 21 được các chuyên gia và nhà hoạch định chính sách nhận định là kỷ nguyên của biển và đại dương, khi mà các viễn cảnh về quy mô dân số thế giới gia tăng nhanh chóng làm suy cạn mọi dạng tài nguyên đang hiện ra trước mắt. Con người chắc chắn sẽ phải hướng ra canh tác vùng biển và đại dương để có thể gia tăng và tái tạo nguồn lợi của “cánh đồng cuối cùng” khổng lồ của hành tinh.

Tất cả các hoạt động kinh tế, an ninh - quốc phòng, tài nguyên - môi trường và cả văn hóa, bao gồm cả Du lịch và Nuôi biển, sẽ được kết nối với nhau trong một không gian chung. Trước đây, vẫn tồn tại quan niệm rằng hai lĩnh vực này có mối quan hệ xung đột với nhau, có nghĩa là sự phát triển của một bên sẽ làm tăng nguy cơ suy giảm của bên còn lại. Tuy nhiên, quan điểm đó đang dần thay đổi khi sự kết hợp của Du lịch và Nuôi biển phần nào đó đang ngày càng mang lại những dấu hiệu tích cực.

Một trang trại du lịch nuôi biển tại tỉnh Guimaras, Phinlipines    Nguồn: www.smithsonianmag.com & https://newsinfo.inquirer.net

Cả hai lĩnh vực đều nằm trong “Chiến lược Phát triển Kinh tế Biển Việt Nam” vừa được Ban Chấp hành TW Đảng ban hành (Nghị quyết 36/NQ-TW). Điều này sẽ góp phần đa dạng hóa kinh tế tại các cộng đồng ven biển. Bên cạnh phát triển sản xuất và có thêm nguồn thu từ du lịch, sự kết hợp này cũng sẽ tạo tiền đề cho việc giảm thiểu cạnh tranh trong sử dụng không gian biển, từ đó giúp nâng cao công tác quản lý. Tuy nhiên, điều này sẽ đòi hỏi cần nhiều hơn những quy định cụ thể để có sự phối hợp thống nhất.

Cho đến thời điểm hiện tại, một số địa phương sở hữu tiềm năng nuôi biển đã tiến hành đưa khách du lịch đến thăm quan và trải nghiệm các vùng nuôi. Theo báo Quảng Ninh, vào tháng 9/2018, UBND thành phố Hạ Long đã tổ chức ký kết hợp đồng khai thác và sử dụng nhà bè và bàn giao mặt nước cho 13 hộ ngư dân của làng chài Vung Viêng phục vụ dự án NTTS bền vững kết hợp du lịch có trách nhiệm trên vịnh Hạ Long. Đây là dự án nằm trong khuôn khổ “Sáng kiến liên minh Hạ Long – Cát Bà: Thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức, địa phương và cộng động” do Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng và đối tác thực hiện bằng nguồn tài trợ từ Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID).

Dự án này được triển khai từ tháng 4/2016, nhằm tạo sinh kế bền vững cho ngư dân, hình thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn; góp phần gìn giữ, bảo tồn làng chài truyền thống trên Vịnh Hạ Long. Mô hình đã được thực hiện thí điểm với 7 hộ dân, 7 nhà bè nuôi trồng thủy sản kết hợp làm du lịch và bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long tại khu vực Vung Viêng. Đến nay, sau gần 3 năm thực hiện, bước đầu mô hình đã đảm bảo cho việc phát triển NTTS bền vững tại vùng lõi của vịnh Hạ Long, đồng thời đã tạo ra một sản phẩm du lịch trải nghiệm mới mẻ cho du khách tham quan, tìm hiểu về những phương thức mưu sinh truyền thống của ngư dân Hạ Long.

Mô hình đã đem lại thêm công ăn việc làm, sinh kế ổn định gắn với nghề truyền thống NTTS của bà con ngư dân kết hợp với phát triển du lịch, chèo đò đưa khách du lịch tham quan, ngắm cảnh khu vực Vung Viêng. Ngoài thu nhập từ NTTS, bà con còn có thu nhập từ dịch vụ tham quan mô hình nuôi, tạo thêm sản phẩm du lịch đặc sắc, duy trì và phát huy giá trị văn hóa làng chài trên vịnh Hạ Long.

Tại tỉnh Khánh Hòa, theo thông tin từ UBND, Tp Nha Trang sẽ triển khai, thiết lập, quy hoạch lại những khu vực hiện đang có các mô hình nuôi biển nằm trong khu vực vịnh Nha Trang để thu hút du khách trong ngoài nước, phát huy tối đa lợi thế của ngành du lịch vốn là thế mạnh chủ lực ở địa phương này. Cụ thể, cơ quan ban ngành sẽ liên kết, sắp xếp chi tiết về việc gia tăng NTTS bằng lồng, kết hợp bè nổi truyền thống tại 3 địa điểm: đảo Trí Nguyên (14ha), đảo Bích Đầm (6ha) và vùng mặt nước giao thoa giữa khu vực đảo Bích Đầm và Đầm Bấy (50ha). Cả 3  địa điểm này sẽ đi theo mô hình nuôi biển công nghiệp với lồng Na Uy. Đối tượng nuôi gồm cá biển (cá hồng, cá chẽm, cá bớp, cá chim vây vàng và cá mú); tôm hùm (tôm hùm đỏ, tôm hùm xanh và tôm hùm bông). Địa phương sẽ hỗ trợ người dân cả về kinh phí lẫn kỹ thuật để di dời lồng bè về nơi tập kết theo quy định, khuyến khích người dân nuôi theo lồng công nghiệp để có thể gia tăng sản lượng cũng như hạn chế những rủi ro dịch bệnh, thiên tai, ô nhiễm môi trường nước.

Khách du lịch tham quan và trải nghiệm khu Nuôi cá biển Vung Viêng – Hạ Long (Nguồn: báo Quảng Ninh)

Cách đó không xa về phía cảng Cam Ranh, đảo Tôm hùm – Bình Ba không chỉ nổi tiếng với đặc sản tôm hùm hấp dẫn mà còn được khách du lịch yêu thích vì có nhiều bãi biển đẹp, không gian hoang sơ và yên bình và người dân thân thiện và mến khách. Tại đây, du khách có thể bắt những con tôm hùm đang được nuôi trong lồng và thưởng thức ngay trên thuyền.

Một số các địa phương khác đã, đang và sẽ triển khai các mô hình kết hợp giữa các hoạt động nuôi biển và du lịch, theo những cách khác nhau. Bà Rịa – Vũng Tàu đang hướng tới  phát triển du lịch sinh thái dã ngoại kết hợp NTTS - tham quan sông nước rừng ngập mặn, nhằm góp phần vào sự phát triển du lịch bền vững. Tại Bình Thuận, việc xây dựng mô hình nuôi cá bớp lồng bè thân thiện môi trường gắn với du lịch đã được triển khai từ vài năm trở lại đây và mang lại những tín hiệu tích cực. Thương hiệu Cá bớp Phan Thiết nói chung và Mũi Né nói riêng và nghề nuôi cá bớp tại Mũi Né là một hình thái du lịch hấp dẫn.  Du khách đến tham quan lồng bè sẽ cùng ngư dân chăm cá, thả mồi, câu cá và thưởng thức các món ăn cá bớp trong không gian thanh bình. Một khi trở thành sản phẩm du lịch đặc thù, trị giá cá bớp Mũi Né sẽ tăng hơn nhiều, góp phần nâng cao thu nhập cho ngư dân.

Du khách tham quan lồng nuôi cá biển ở Nha Trang    Nguồn: Nguồn: https://nhatrangsensetravel.com

Để “Du lịch Nuôi biển” thực sự xứng với tiềm năng

Nuôi biển là hoạt động canh tác trên biển, gồm các hệ thống và loài nuôi khác nhau. Hiện nay, một thực trạng vẫn đang tồn tại là các khu vực nuôi biển ở nước ta có gây ảnh hưởng xấu đến môi trường biển gần các khu du lịch nổi tiếng, những khu nghỉ dưỡng, resort cao cấp và rất nhiều danh lam thắng cảnh cần được bảo tồn. Chính vì thế, cần có quy hoạch tổng thể không gian biển đảo mang tính chiến lược, phân định ranh giới rõ ràng cho từng hoạt động kinh tế, tránh sự cạnh tranh, xung đột trong việc sử dụng không gian biển đảo.

Song song với việc phân định, rất cần sự kết hợp hài hòa giữa các hoạt động khác nhau. Ví dụ, nếu du khách chỉ có nhu cầu tắm biển, nghỉ mát, cần tìm đến những khu nghỉ dưỡng, resort cao cấp nằm tập trung quanh các địa điểm du lịch chính. Nếu muốn tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ về hoạt động thường nhật của ngư dân nuôi biển, hòa mình vào khung cảnh yên bình của những trại nuôi, hay đơn giản là thích tự tay nuôi, đánh bắt và chế biến những loại hải sản thì người ta sẽ tìm đến với các trại nuôi biển.

Thêm nữa, cần có điều tra, khảo sát nhằm thu được thông tin, dữ liệu về cả du lịch lẫn nuôi biển, thực hiện phân tích các ưu nhược điểm, cơ hội và thách thức đối với các mô hình kết hợp của hai lĩnh vực. Các giải pháp sẽ hướng đến sự cân bằng về nguồn lợi cho các bên và vì lợi ích chung của cộng đồng.

Cuối cùng, công tác truyền thông, quảng bá và xây dựng thương hiệu, danh tiếng cho các mô hình này cũng rất quan trọng. Lồng ghép vào đó là nhiệm vụ nâng cao nhận thức về vai trò của bảo vệ môi trường, các hệ sinh thái tự nhiên, giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái đối với cộng đồng địa phương, khách du lịch trong nước và quốc tế, công đồng ngư dân.

Nghề nuôi biển đang trong quá trình chuyển từ hình thức truyền thống sang quy mô công nghiệp. Sư kết hợp hài hòa với du lịch sẽ giữ lại những nét văn hóa của cộng đồng ngư dân và phát huy những đổi mới, sáng tạo trong lĩnh vực kinh tế của các cộng đồng ven biển. Theo nhiều chuyên gia, đây là một lĩnh vực hoàn toàn tiềm năng để phát triển trong tương lai. Có rất nhiều việc phải làm để có thể thực hiện sự kết hợp này.

Bài Lê Xuân Chinh - Ảnh: Internet

Bạn cần đăng nhập để bình luận