vsalogo

Thay đổi theo phương thức công nghiệp

Ngày đăng: 28/01/2019
(VSA) PGS.TS NGUYỄN HỮU DŨNG- Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA) cho biết, hiện cả nước có khoảng 50 nghìn hộ ngư dân nuôi biển, tất cả đều chưa được đào tạo, khó tiếp cận vốn và thiếu hướng dẫn về công nghệ để phát triển nuôi biển bền vững. Để chuyển sang phương thức nuôi công nghiệp, họ phải được tổ chức thành hợp tác xã hoặc doanh nghiệp để có thể tiếp cận vốn, công nghệ.

Chỉ chiếm 1% sản lượng toàn cầu

PGS.TS NGUYỄN HỮU DŨNG     

Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA)

- Với diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiều dài bờ biển hơn 3.260km, có gần 3.000 đảo lớn nhỏ, nhiều vũng vịnh kín... Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển nuôi biển. Đặc biệt là các vùng biển khu vực phía Tây ít chịu gió bão, khu vực biển miền Trung có lợi thế về độ sâu có thể phát triển nuôi các loại cá biển công nghiệp.

Hiện nay, nuôi trồng thủy sản Việt Nam đứng thứ tư thế giới. Chúng ta cũng đứng đầu khu vực ASEAN về chế biến thủy sản, với hơn 600 nhà máy, trong đó hơn 400 được cấp code EU, tức là được cấp phép để vào thị trường EU. Tuy nhiên, nghề nuôi biển của nước ta mới chỉ chiếm 1% sản lượng toàn cầu, còn gặp rất nhiều khó khăn và thách thức.

 - Cụ thể  khó khăn và thách thức đó là gì, thưa ông?

- Vì ngành khai thác thủy sản đang không hiệu quả, nguồn lợi hải sản tự nhiên suy giảm, nên các doanh nghiệp chế biến hải sản đang thiếu nguyên liệu nghiêm trọng, khiến tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đang có xu hướng giảm dần.

Chúng ta cũng có rất ít doanh nghiệp nuôi biển, hầu hết trại nuôi biển đều có quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình, công nghệ lạc hậu. Mỗi hộ chỉ nuôi vài trăm cân thì không thể có công nghiệp nguyên liệu cho chế biến được. Bên cạnh đó, rủi ro ô nhiễm môi trường cao, nguồn lợi biển ngày càng suy giảm, quản lý môi trường biển còn lỏng lẻo. Liên kết giữa các trại nuôi với hệ thống cung cấp thức ăn, con giống, chế biến, tiêu thụ còn rất yếu kém.

Cho nên, vấn đề đặt ra là phải đổi mới sản xuất nguyên liệu, trước hết là đổi mới phương thức, công nghệ và tổ chức nuôi biển. Trong 10 năm tới, phải từng bước chuyển nuôi biển từ thủ công, quy mô nhỏ, kém bền vững, sang nuôi biển theo phương thức công nghiệp, quy mô thích hợp, phát triển bền vững.

 Không có khó khăn đáng kể từ CPTPP

- Hiệp định Đối tác Toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã có hiệu lực, sẽ tác động như thế nào đến ngành nuôi biển, thưa ông?

 - So với các doanh nghiệp nông sản, khó khăn của doanh nghiệp chế biến thủy sản nước ta từ Hiệp định CPTPP không lớn. Bởi vì, ngành thủy sản nước ta đã đi trước nhiều năm về hội nhập quốc tế, với việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như tiêu chuẩn của Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC), GlobalGAP, cũng như các tiêu chuẩn cao về bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Ưu đãi về thuế quan cũng rất thuận lợi.

Hiệp định CPTPP sẽ giúp cho các doanh nghiệp chế biến tận dụng được nguồn nguyên liệu từ các nước thành viên để làm nguyên liệu cho mình như Chile, Canada, Mỹ... Hiện các nhà máy đều thiếu nguyên liệu, trong đó có 3 khối tôm, cá tra, cá ngừ. Nhà máy chế biến cá tra đạt khoảng 70%, nhà máy chế biến tôm tính cả nhập khẩu cũng mới chỉ đáp ứng được trên 50% công suất thiết kế. Riêng nhà máy chế biến hải sản thiếu nguyên liệu nghiêm trọng, trong nước chỉ đủ đáp ứng khoảng 20 - 30% công suất.

Chúng ta đã xuất khẩu thủy sản sang 163 nước, cho nên vấn đề mở rộng thị trường không phải khó khăn lớn. Nhưng, như đã nói ở trên, nguyên liệu phải được đáp ứng đầy đủ và đa dạng, đủ để khai thác hết công suất thiết bị. Tiếp theo là đa dạng mặt hàng chế biến và thúc đẩy chế biến sâu. Ví dụ như rong biển, trong hơn 600 nhà máy chế biến thủy sản chỉ vài doanh nghiệp thạch rau câu là chế biến rong. Trong khi đó, Indonesia có 10 triệu tấn rong/năm, tại sao chúng ta không nhập rong từ đấy về chế biến? Nếu chúng ta thúc đẩy được chế biến sâu thì giá bán và lợi nhuận sẽ rất cao.

Mô hình nuôi cá biển công nghiệp tại Vân Phong, Nha Trang

- Ông kiến nghị gì về chính sách để phát triển nghề nuôi biển?

- Một là, chính sách về tín dụng và tiếp cận vốn cho ngư dân nuôi biển. Như chúng ta đã biết, cho đến nay rủi ro lớn nhất của nghề nuôi biển thủ công là bão tố. Để khắc phục được mối nguy này, tiến ra canh tác vùng xa bờ, lồng bè nuôi biển phải có khả năng chống chịu được bão cấp 12. Công nghệ nuôi biển trên thế giới hiện nay rất phát triển, như công nghệ chế tạo lồng bè, thiết bị nuôi tiên tiến, với các phương thức lồng nổi, lồng bán chìm, lồng chìm, bằng các loại vật liệu bền vững, chịu nước mặn, hoạt động ổn định lâu dài ở khơi xa trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhất... Trong khi ngư dân của chúng ta có trang thiết bị và công cụ rất nghèo nàn và sơ sài, chỉ một trận bão là có thể mất trắng.

Vì vậy, cần phải đầu tư vào công nghệ. Muốn vậy, ngư dân phải được tiếp cận vốn. Chính phủ đã ban hành Nghị định 67 tạo điều kiện cho ngư dân tiếp cận vốn vay đóng mới tàu đánh cá mà tại sao không có chính sách nào để giúp ngư dân tiếp cận vốn đầu tư trại nuôi, công nghệ? Khi đó, ngư dân sẽ thay đổi canh tác theo phương thức công nghiệp.

Hai là, hỗ trợ đào tạo nhân lực, chí ít là đào tạo công nhân nuôi biển công nghiệp và người quản lý trại nuôi biển. Cần hỗ trợ và hướng dẫn ngư dân xây dựng đề án nuôi biển, trình lên cấp có thẩm quyền, được giao vùng biển để nuôi  biển dài hạn (đến 30 - 50 năm).

Hiện nay, có khoảng 50 nghìn hộ ngư dân nuôi biển trên cả nước, tất cả đều chưa được đào tạo và thiếu vốn, thiếu công nghệ để phát triển nuôi biển chuyên nghiệp. Cần phải đào tạo để chuyển các hộ ngư dân thành hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tư nhân, có thể tiếp cận được vốn, công nghệ và đào tạo. Còn doanh nghiệp lớn thì lo cung ứng đầu vào và thị trường đầu ra trong chuỗi giá trị nuôi biển cho ngư dân.

Ba là, Luật Thủy sản 2017 có hiệu lực từ ngày 1.1.2019, yêu cầu tất cả hoạt động nuôi biển phải được cấp phép, được giao vùng biển để nuôi. Thế nhưng, cho đến nay Chính phủ chưa ban hành chính sách, Nghị định hướng dẫn nào về vấn đề này. Tôi đề nghị phải sớm ban hành các nghị định, thông tư, hướng dẫn để người nuôi biển thực hiện đúng Luật.

- Xin cảm ơn ông!

Theo: An Thiện - daibieunhandan.vn

 

Bạn cần đăng nhập để bình luận