vsalogo

Nuôi biển khơi - Liệu có thể tránh được sai lầm của các trại nuôi gần bờ

Ngày đăng: 10/10/2018
(VSA - 10/10/2018) Nuôi cá gần bờ đã gây ra một loạt các vấn đề về môi trường. Hiện những người ủng hộ nuôi biển ở Mỹ - được ủng hộ bởi các nhóm bảo tồn chính thống - nói rằng việc đưa các hoạt động được tổ chức tốt ra khơi có thể tạo ra các thực phẩm bền vững và bảo vệ các nguồn lợi tự nhiên khỏi bị lạm thác.

Donna Lanzetta có một ý tưởng lớn: cô muốn nuôi cá vược sọc trong trại nuôi biển nước sâu, khoảng 8 dặm ngoài khơi bờ biển Southampton, Long Island, nơi cô sinh ra và lớn lên.

Là luật sư có hiểu biết về bất động sản và chính trị, Lanzetta đã đành được sự ủng hộ của các quan chức địa phương và nhà nước. Các nhà khoa học biển và các chuyên gia nuôi trồng thủy sản đã khuyên cô nên khởi nghiệp, trang trại có tên là Trại cá Manna. Cô đã mua một hệ thống cho ăn tự động có thể được vận hành từ trên bờ, và có kế hoạch nhờ nhân giống để có được loài cá với chất lượng hệt cá vược sọc tự nhiên, giảm bớt lo ngại về việc cá sổng lồng.

Hiện nay tất thẩy những gì cô cần làm là tăng thêm vài triệu USD, thuyết phục các cơ quan liên bang cấp giấy phép, và, có lẽ, cần có một đạo luật của Quốc hội cho phép miễn trừ hoạt động nuôi cá vược sọc trong vùng biển liên bang của cô ra khỏi tội danh hình sự, theo quy định hiện hành của luật bảo vệ nguồn lợi động vật tự nhiên.

Lanzetta nói: "Thật không dễ dàng để đi tiên phong”. 

Không dễ để phát triển các dự án nuôi hải sản tại các vùng biển liên bang của Mỹ, gồm khu vực cách xa bờ từ 3 đến 200 hải lý. Người nuôi cá Mỹ thường nuôi thủy sản trong các hồ, các ao, bể và các vùng nước ven biển theo quy định của các bang, ngoại trừ một số trang trại nuôi các loài thủy sản có vỏ, họ không nuôi cá ở xa bờ.

Nuôi biển khơi có nhiều lợi thế hơn các trang trại nuôi cá ở vịnh và cửa sông, nơi có hệ sinh thái ven biển bị ô nhiễm.

Một số nhà môi trường cho rằng đó là điều không may, vì nuôi biển khơi có lợi thế hơn hẳn các trang trại nuôi hải sản ở các vịnh và cửa sông, gây ra các vấn đề về môi trường như tích tụ chất thải của cá và phát triển nhiều rận biển trong các hệ sinh ven bờ. Ngày nay, những người ủng hộ nuôi biển khơi chỉ ra rằng, các hệ thống thông tin địa lý phong phú về dữ liệu đã cho phép các công ty và các nhà quản lý đưa ra các quyết định sáng suốt hơn về vị trí đặt các trang trại nuôi biển, nơi có dòng nước chảy mạnh và sâu hơn để có thể pha loãng và làm sạch chất thải và ô nhiễm. Các dự án ngoài khơi cũng ít khả năng kích động sự phản đối từ các chủ sở hữu tài sản ven bờ (ví dụ như trang trại của Lanzetta sẽ không thể nhìn thấy từ bờ).

Lanzetta là một trong số rất ít người tiên phong trong nuôi biển ở Mỹ. Don Kent, chủ tịch Viện nghiên cứu Đại dương thế giới (Hubbs-Sea World Research Institute) tại San Deigo, đã cố gắng phát triển một trại nuôi biển trong suốt một thập kỷ, hiện đã xác định xây dựng trại cách bờ biển phía nam California 4 hải lý. Nhà sinh học biển Neil Anthony Sims, người đồng sáng lập một dự án khởi nghiệp nuôi biển được gọi là Trại Kampachi, đang lên kế hoạch vận hành một trại nuôi cách bờ biển phía tây nam Florida 30 dặm thí điểm nuôi cá cam trong ngắn hạn.

Tất cả đều đang đối mặt với những trở ngại. Thể chế quản lý không rõ ràng có lẽ là khó khăn lớn nhất: có khoảng nửa tá cơ quan liên bang - bao gồm cả Tổng Cục Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA), Cơ quan Bảo vệ Môi trường, Công binh Lục quân Mỹ, Hải quân, Cảnh sát biển, Cục Thủy sản và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ... - cùng nắm quyền cấp phép. Sim mô tả: "Một vấn đề hóc búa đáng sợ về trách nhiệm và quyền cấp phép chồng chéo".

Ngoài ra còn có các thách thức về logistic. Các lồng nuôi khơi hoạt động trong vùng nước nhiều khó khăn hơn so với đối tác gần bờ, rủi ro cá xổng lồng tăng - đó là mối quan tâm hàng đầu của một số nhà sinh học, thí dụ họ lo cá hồi Đại Tây Dương thoát ra khỏi lồng, tra­nh giành thức ăn và khu đẻ trứng với cá hồi Thái Bình Dương. Việc xác đinh vị trí cho trại nuôi khơi cũng tốn kém hơn, mặc dù các trang trại nuôi cá giò và vược hiện đang hoạt động thành công tại Panama và Mexico.

Trong khi một số ý kiến chỉ trích phản đối mạnh mẽ việc nuôi biển ngoài khơi, bao gồm cả người câu cá giải trí, đánh bắt thương mại, các công ty nuôi thủy sản nội địa và các nhóm hoạt động vì môi trường, một số tổ chức phi lợi nhuận thân thiện với môi trường đang làm việc với các chính phủ và doanh nghiệp trên toàn thế giới để ủng hộ việc nuôi thủy sản có trách nhiệm. Họ thấy nuôi biển là một phương cách để cung cấp protein lành mạnh cho dân số đang
ngày một tăng trên thế giới, trong khi vừa bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên khỏi bị lạm thác.

Jerry Schubel, một nhà hải dương học, chủ tịch Thủy cung Thái Bình Dương ở Long Beach, Califor­nia nói rằng "Khiđược thực hiện đúng cách, nuôi trồng thủy sản, có thể là công cụ chính để bâo tồn. Nó có thể bâo tồn nguồn lợi hoang dỡ. Nó có thể thể bảo vệ môi trường sinh thái. Chúng ta có một cơ hội tuyệt vời để cho phân còn lại của thế giới biết nó có thể được thực hiện một cách bền vững".

Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) từ lâu đã ủng hộ việc nuôi trồng thủy sản bền vững, đã hỗ trợ ngay từ đầu một tổ chức xây dựng tiêu chuẩn là Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC). 7 năm trước, Tổ chức Bảo tồn Quốc tế đưa ra một nghiên cứu toàn cầu được gọi là Blue Frontiers về nuôi thủy sản, chỉ rõ tồn tại trong các trại nuôi thủy sản quản lý kém, nhưng kết luận rằng nuôi trồng thủy sản "có lợi thế lợi rõ ràng hơn so với các loại sản xuất thực phẩm khác cho con người". Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên đã khởi đầu chương trình nuôi thủy sản hai năm trước; tổ chức này đang theo dõi tác động của các trại nuôi thủy sản có vỏ và cá chình trắng tại vịnh Chesapeake và vịnh Tomales, California, chương trình này có khả năng khôi phục các hệ sinh thái biển.

Robert Jonh, người đứng đầu về nuôi trồng thủy sản của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên, cho biết "các loài thủy sản có vỏ và cá chình trắng là khởi đầu. Chúng tôi đang tìm cách nuôi các loài cá biển khác. Đây là một cơ hội rất lớn cho hành tinh này, và đồng thời cũng là thách thức rất lớn".

Ông Schubel còn nói thêm: "Chúng tôi có khoa học, công nghệ, các vùng biển - vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn nhất của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới - và chúng tôi có nhu câu. Dù bạn nhìn nhận thế nào đi chàng nữa, Mỹ vẫn cân tham gia hoạt động nuôi biển".

Nhiều người cho rằng nuôi cá một cách có trách nhiệm, gần quê hương, tốt hơn là nhập khẩu thủy sản từ những nơ* có quy định không chặt chẽ

Trang trại nuôi thủy sỏn Manna hi vọng sử dụng thiết bị cho ân tự động tại các trại nuôi thủy sỏn nước sâu đang lên kếhoạch tại Long Island, New York.

Năm 2016, khi NOAA đưa ra kế' hoạch hợp lý hóa quy trình cho phép nuôi biển tại vịnh Mexico, Tổ chức Food and Water Watch, Trung tâm An toàn thực phẩm và các nhóm khai thác thương mại và giải trí tại vịnh đã nộp đơn kiện. Marianne Cufone, người sáng lập ra Liên minh Các trại Tuần hoàn khép kín, đại diện cho các traị nuôi cá quy mô nhỏ, tái tuần hoàn nước thải, phát biểu: "Hãy nhìn vào các trại nuôi cá hồi biển ở bất kỳ nơi nào trên trái đất. Đúng là thỏm họa, bao gồm cỏ bệnh tật, cá sổng lồng, và gây ô nhiễm".Tuy nhiên, cộng đồng bảo vệ môi trường vẫn chia làm 2 phe. Oceana, tổ chức động nhằm bảo tồn biển, không có trại nuôi biển khơi tnào ại Mỹ, nhưng đã vận động chống lại việc nuôi cá hồi từ Chile. Tổ chức này cho biết người nuôi cá hồi Chile đang lạm dụng kháng sinh, và những chất khác. Tổ chức Food and Water Watch, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Washington, cho biết các trang trại nuôi cá "nói chung là rộng lớn, bẩn thỉu và nguy hiểm, giống như nhà máy trồng trọt trên đất liền". Tổ chức này cho rằng các công ty tư nhân không được phép khai thác nguồn tài nguyên chung của chúng ta vì lợi ích tài chính của họ.

Ngay cả những người ủng hộ nuôi biển khơi của Mỹ cũng không bảo vệ các hoạt động này ở nơi khác. Ngược lại, họ cho rằng nuôi cá có trách nhiệm tốt hơn là nhập khẩu từ những nơi mà quy định không chặt chẽ và việc thực thi không hiệu quả. Trung Quốc, In­donesia, Ấn Độ, Việt Nam và Philippins là những nhà nuôi trồng thủy sản lớn nhất thế giới, theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO). Bangladesh sản xuất thủy sản nuôi lớn gấp 4 lần Mỹ.

Ông Jones nói: "Nếu bạn nuôi thủy sỏn tại Mỹ, sẽ được quỏn lý tốt hơn và chuỗi cung ứng được rút ngắn, được đưa tới gân các thành phố lớn" Mỹ hiện nhập khẩu khoảng 90% các sản phẩm thủy sản, tạo ra sự thâm hụt thương mại thủy sản ước tính hơn 14 tỷ USD.

Những người ủng hộ nuôi biển ngoài khơi không phủ nhận rằng nuôi thủy sản ven bờ đã gây ra nhiều tai ương về môi trường. Các hoạt động nuôi thủy sản gần bờ có thể tích tụ ký sinh trùng và bênh tật, như cá hồi bị nhiễm rận biển ở Na Uy, Chile và các nơi khác, gây nguy cơ cho các quần thể cá hồi con tự nhiên. Khi mật độ nuôi quá cao, phân cá và thức ăn thừa từ các trại cá gây ô nhiễm vùng nước. Các trại nuôi cũng sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất có thể góp phần làm tăng sức đề kháng của vi khuẩn, đe dọa sức khỏe con người. Cuối cùng, vì cá được nuôi tại các trang trại thường ăn bột cá và dầu cá có nguồn gốc từ các loại cá nhỏ từ tự nhiên như cá mòi dầu và cá cơm, nên nuôi trồng thủy sản có thể dẫn đến nguy cơ lạm thác nguồn lợi tự nhiên và phá vỡ chuỗi thức thức ăn của toàn bộ hệ sinh thái biển.

Tuy nhiên, những người đề xuất nuôi trồng thủy sản cho rằng những vấn đề này có thể quản lý được - đặc biệt là với hoạt động nuôi trồng thủy sản ngoài khơi - và thực tế, hoạt động này đang được quản lý tốt tại Mỹ. Ông Mike Rust, điều phối viên khoa học của Văn phòng Nuôi trồng thủy sản của NOAA cho biết: "Sử dụng thức ân ít bột cá, sử dụng ít kháng sinh, nước thỏi giàu dinh dưỡng được quỏn lý tốt, và tỷ lệ cá sổng lồng thấp là tiêu chuẩn không có ngoại lệ tại Mỹ". Ví dụ, đối với thức ăn cho cá, người nuôi ngày càng chuyển sang sử dụng chế độ ăn đạm thực vật nhiều hơn, bổ sung thêm dầu cá. Một doanh nhân khởi ghiệp tai Thung lũng Silicon có tên là Calysta đã phát triển một chất thay thế bột cá được tổng hợp từ khí metan, thay vì thải vào khí quyển.

Ngoài khơi, nơi các lồng nuôi bị các dòng nước mạnh tác động, việc cá thoát ra khỏi lồng là mối quan ngại lớn. Trong những năm qua, các loài cá nuôi trái với quần đàn tự nhiên, đặc biệt là cá hồi Đại Tây Dương nuôi ở Thái Bình Dương, đã sổng thoát ra sông và biển ở Chile và British Columbia. Mùa hè năm ngoái, ước tính 160.000 con cá hồi thoát khỏi trại nuôi ở Puget Sound gần Seattle, đã làm dấy lên mối lo ngại rằng những con cá này có thể tập trung vào những bãi đẻ trứng và cạnh tranh thức ăn với cá hồi hoang dã. Nhưng các cơ quan quản lý nhà nước và liên bang cho biết các vụ sổng lổng như vậy không gây ra thiệt hại lâu dài, do cá hồi Đại Tây Dương không thể cạnh tranh được với các loài bản địa. Mặc dù vậy mối lo ngại các vụ cá sổng lồng vẫn có các tác động tiêu cực về lâu dài, vì các nhà khoa học cho rằng một số ít cá hồi nuôi vẫn có thể tồn tại trong tự nhiên.

Khoa học phát hiện ra rằng nuôi cá tốt cho biến đổi khí hậu hơn là chăn nuôi động vật trên cạn

Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) và Liên minh Nuôi trồng Thủy sản Toàn cầu (GAA) đã được thành lập để trao giải cho người nuôi có trách nhiệm. Những nỗ lực của họ dường như đã được đền đáp: sản lượng cá hồi nuôi toàn cầu được chứng nhận ASC đã tăng từ 7% lên 25%, các tiêu chuẩn của tổ chức này đã hướng dẫn cho các nhà bán lẻ Mỹ như Walmart và Whole Foods Market. Ông Scott Nichols, một thành viên của Hội đồng Quản trị ASC, cho biết: “Nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn này, sẽ không chỉ cho phép chúng ta mở rộng trách nhiệm, mà còn mở rộng nguồn cung cấp thực phẩm".

Các nhà khoa học cũng đã phát hiện ra rằng trong quan hệ với biến đổi khí hậu, nuôi cá tốt hơn là nuôi động vật trên cạn. Dữ liệu chưa đủ, nhưng về mặt logic thì rất rõ ràng: cá tốt hơn bò, lợn và gà khi chuyển thức ăn chăn nuôi thành thực phẩm, vì chúng thuộc loài máu lạnh, không cần tiêu tốn năng lượng để làm ấm bản thân, không cần chống lại trọng lực, và chúng có bộ xương nhỏ hơn. Vào năm 2014, các nhà khoa học của Đại học Oxford đã kiểm tra chế độ ăn của khoảng 55.000 người Anh và phát hiện ra rằng những người ăn theo chế độ pescatarian (chế độ ăn chay bổ sung thêm cá và hải sản), chỉ tạo ra lượng
khí thải carbon bằng nửa chế độ độ ăn nhiều thịt. Tất nhiên, người ăn chay hoàn toàn còn tốt hơn.

Hơn nữa, theo ông Steve Gaines, Trưởng khoa Khoa học và Quản lý Môi trường của Đại học Cali­fornia ở Santa Barbara, chuyên gia nuôi trồng thủy sản cho biết, không giống như động vật trên cạn, cá không cần được cung cấp nước sạch. Ông Gaines nói: "Các hoạt động nuôi trồng thủy sản thực tế ở mức trung bình hiện nay, không phải hoạt động tốt nhất, vẫn tốt hơn đáng kể so với các hình thức sản xuất nông nghiệp trên cạn. Nếu bạn nhìn vào thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhất, không có hoạt sản xuất thịt trên cạn nào có mức tác động tới môi trường thấp đến như vậ/'.

Trong khi đó, những người muốn đi tiên phong trong hoạt động nuôi biển khơi tại Mỹ vẫn đang tiếp tục tiến bước. Kent, người suốt một thập kỷ tìm cách xây dựng trại nuôi cá biển ngoài khơi California, đã nói rằng các nhà đầu tư của ông (họ từng có quỹ đầu tư nuôi trồng thủy sản do gia đình Walton hậu thuẫn) đã tiêu hơn 1 triệu USD. Nông trại Kampachi của Sim gần đây đã được cấp một khoản trợ cấp của Liên bang trị giá 139.000 USD để thí điểm nuôi biển ngoài khơi của Florida. Ông này cho biết "Nếu kết quả thuận lợi, chúng tôi cũng sẽ hy vọng sẽ xin được giấy phép nuôi thủy sản thương mại".

Còn đối với trại cá Manna, công ty của Lanzetta, họ đã được tài trợ 300.000 USD từ ngân sách tiểu bang New York và chính quyền sở tại để hỗ trợ phát triển. Cô đang hy vọng điều này sẽ đảm bảo giấy phép sẽ được cấp trong năm nay, để triển khai các thiết bị vào năm tới, lấy cá giống từ khu vực vào mùa xuân, và mùa thu hoạch đầu tiên của cô vào cuối năm 2019./.

Quỳnh Chi dịch Nguồn: https://e360.yale.edu/features/

Bạn cần đăng nhập để bình luận