vsalogo

Người đàn bà miệt mài cho cá đẻ

Ngày đăng: 29/06/2018
(VSA - 29.6.2018) Chị Lê Thị Như Phượng, Giám đốc Công ty TNHH Phượng Hải Nha Trang tại Tp. Nha Trang (Khánh Hoà) đích thân đón tôi đi thăm trại sản xuất giống của công ty. Trên quãng đường đi từ TP. Nha Trang đến khu trại ương giống cá biển ở thị xã Ninh Hoà (khoảng 35 km), râm ran câu chuyện về nghề cá, nuôi trồng thuỷ sản với những khó khăn, thách thức và triển vọng trong tương lai.

Duyên nợ với ngành thuỷ sản

Sau chuyến bay vội vã, tôi đã có mặt ở thành phố biển xinh đẹp Nha Trang của tỉnh Khánh Hoà. Trời nắng chói chang của không khí đầu hè cùng với gió biến mặn mòi càng khiến cho tôi thấy biển có sức hút vô hình kỳ lạ, làm tan biến cảm giác mệt mỏi sau một chặng đường dài.

Chị Lê Thị Như Phượng, Giám đốc Công ty TNHH Phượng Hải Nha Trang tại Tp. Nha Trang (Khánh Hoà) đích thân đón tôi đi thăm trại sản xuất giống của công ty. Trên quãng đường đi từ TP. Nha Trang đến khu trại ương giống cá biển ở thị xã Ninh Hoà (khoảng 35 km), râm ran câu chuyện về nghề cá, nuôi trồng thuỷ sản với những khó khăn, thách thức và triển vọng trong tương lai.

Chị kể, chị là con gái duy nhất trong gia đình có sáu anh chị em, lúc nhỏ chị được cha mẹ cưng hơn các anh, em trai và khi còn niên thiếu chị đã ước mơ và lựa chọn ngành y khoa. Tuy nhiên, run rủi cuộc đời lại dẫn chi đến với nghề cá, lại làm rất sâu về kỹ thuật trong khi các anh em trong gia đình đều làm ngành tài chính, ngân hàng.

Theo học ngành nuôi trồng thuỷ sản tại Đại học Thuỷ sản Nha Trang từ năm 1992, ngay sau khi ra trường, chị đã bắt tay vào việc thu mua cá, xuất khẩu thuỷ sản. Sớm nhận thức được nhu cầu thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước về một số' loài cá biển ngày một cao, trong khi khai thác hải sản đang có xu hướng giảm dần, chị đã mạnh dạn đề xuất lãnh đạo công ty cho mình nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá biển. Được sự đồng ý, chị đã bắt tay vào cái "nghiệp cho cá đẻ" từ những năm 2000.

Đam mê, nỗ lực và câu chuyện thành công

Với bản tính cần cù, chịu khó và niềm đam mê, ngay từ đầu những năm 2005, chị đã cho sinh sản thành công cá giò (cá bớp), có tên khoa học là Rachycentron canadum. Khi phong trào nuôi cá giò ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ (2006 - 2012), chị đã là địa chỉ tin cậy, cung cấp con giống lớn nhất trên phạm vi toàn quốc.

Say mê nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi, có duyên với nghề, với bà con nông dân, ngư dân, chị đã được các ngư dân địa phương tin yêu, giới thiệu một số loài cá mà họ bắt từ tự nhiên về nuôi nhốt trong bè, như cá gáy biển (Lethrinus nebulosus), cá bè vàng (Gnathanodon specious), cá bè vẫu (Caranx ignobilis), cá tai bồ,... và "yêu cầu" chị cho sinh sản nhân tạo để có con giống cho họ nuôi. Từ yêu cầu của bà con, chị tìm hiểu thêm thực tế' về nguồn giống tự nhiên, hình thức nuôi, nhu cầu thị hiếu, thị trường tiêu thụ...Sau đó, ngư dân lại giúp đỡ chị thu gom những đàn cá mà bà con đang nuôi về bè nuôi vỗ cá bố' mẹ của công ty.

Chị tâm sự: "Đây là điểu may mắn, vì những loài cá này là cá bản địa mà đã được ngư dân thuần hoá và chứng tỏ chúng có thể nuôi nhốt được, thị trường chấp nhận".

Những nỗ lực, mồ hôi của chị đã được đền đáp xứng đáng, cho đến nay, chị cùng Công ty đã cho sinh sản nhân tạo thành công nhiều loài cá biển có giá trị kinh tế', như cá vược mõm nhọn, cá song mỡ, cá song đen, cá song cọp,cá song trân châu, cá bớp (cá giò), cá gáy biển (họ cá hè), cá bè vẫu (cá khế' vây vàng), cá bè vàng (cá khế' vằn), cá tai bồ...và đã cung cấp con giống cho ngư dân nuôi ở các tỉnh ven biển nước ta, đa dạng hóa đối tượng nuôi, đáp ứng nhu cầu của thị trường, phù hợp với điều kiện nuôi của ngư dân và luôn chủ động nguồn cá giống tại địa phương để góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá biển, nâng cao hiệu quả kinh tế' cho người nuôi cá.

Hiện nay, ngoài một khu bè nuôi vỗ cá bố mẹ ngoài biển, công ty của chị có 3 trại ương nuôi cá giống ở thị xã Ninh Hoà, với tổng diện tích khoảng 21 ha. Công ty đã tạo công ăn việc làm cho 20 lao động lâu dài tại địa phương, người lao động được ký hợp đồng dài hạn, đảm bảo các quyền lợi theo pháp luật. Sự chăm sóc rõ ràng, minh bạch đối với quyền lợi của người lao động đã kéo họ ở lại với công ty như những thành viên trong một "đại gia đình Phượng Hải Nha Trang".

Ngay khi đến thăm trại giống tôi đã thấy việc bố trí các bè ương cá giống, các ao ương nuôi tương đối khoa học, trại có các ao xử lý, bể xử lý nước, các ao và giai ương nuôi được vệ sinh sạch sẽ, có khu vực gây luân trùng và các thức ăn tự nhiên cho cá bột, máy sục khí, quạt nước, lưới chống vật dữ. Hơn nữa, các ao ương nuôi, ao lắng được nối với nhau theo một hệ kín, hạn chế lấy nước hoặc thải nước trực tiếp ra môi trường tự nhiên, nâng cao độ an toàn sinh học.

Chị cho biết: "Chị thường dậy từ 5 giờ sáng và đi từ TP. Nha Trang đến trại giông sớm nhất để đốc thúc, theo dõi công việc, cũng như gặp gỡ và xuất cá giông cho bà con, khách hàng". Những năm gần đây, công ty cung cấp hàng năm trên

cá giống,chủ yếu là cá bớp, cá bè vẫu và cá bè vàng, cá tai bồ, cá mú... cho bà con nông dân trên phạm vi toàn quốc.

Không dừng lại, chị luôn tìm kiếm thêm đối tượng mới đang được bà con nuôi từ nguồn cá giống tự nhiên, đồng thời nghiên cứu lai tạo các loài cá với nhau để tạo ra đối tượng mới có tính vượt trội hơn, thích nghi hơn với môi trường nuôi và mong muốn có đối tượng mang thương hiệu Việt Nam để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Bên canh việc cho sinh sản, ương nuôi, Công ty TNHH Phượng Hải Nha Trang cũng đang thử nghiệm nuôi thương phẩm cá tai bồ trong ao đất. Là cá biển khơi, song chúng vẫn phát triển rất tốt, khoẻ mạnh, màu sắc đẹp trong các ao đất nước lợ. Nhìn đàn cá lanh lẹn, mạnh mẽ, đua nhau lao lên mặt nước đớp thức ăn công nghiệp tôi tin việc nuôi loài cá này là hoàn toàn khả thi.

Trăn trở phát triển bền vững ngành nuôi biển

Mặc dù là người đi trước, dẫn đầu có nhiều lợi thế, xong chị luôn canh cánh trong lòng những lo nghĩ làm sao để phát triển ngành nuôi cá biển xa bờ bền vững và biến nó thành thế' mạnh, lợi thế' cho kinh tế' biển Việt Nam.

Khi được hỏi về việc đã có quy trình nuôi những đối tượng mà chị đã cho sinh sản thành công hay chưa, chị cho biết:

"Rât tiếc là chưa có cơ quan, đơn vị nghiên cứu nào làm thực nghiệm, xây dựng mô hình, quy trình nuôi các loài cá này lên thương phẩm. Mặc dù chị đã kêu gọi, khuyến khích và sẵn sàng hợp tác với các cơ quan, tô’chức liên quan trong ngành ở địa phương. Do đó, hiện nay nông dân hầu như tự phát và nuôi dựa vào kinh nghiệm". Đây sẽ là một cản trở lớn cho việc phát triển nuôi biển quy mô công nghiệp ở Việt Nam chúng ta.

Chị nói: ‘‘Thứ nữa, Công ty gặp khó khăn trong việc sử dụng đât, mặt nước, vì hiện tại chỉ có thể thuê đất theo hợp đông 1-2 năm, vì thế, khó đảm bảo cho việc an tâm đâu tư nâng câp hạ tâng trang trại một cách hiện đại, quy mô và bền vững".

Chị cho biết thêm: "Công ty TNHH Phượng Hải Nha Trang cũng như các doanh nghiệp, cáchộ nuôi cá biển khác mong các cơ quan, ban ngành hữu quan ở trung ương và địa phương có cơ chế, chính sách, đặc biệt là quy hoạch vùng nuôi thương phẩm, vùng sản xuât giông cá biển, bao gôm cả khu nuôi vỗ đàn cá bô’mẹ và khu ương nuôi cá con, để các doanh nghiệp, người sản xuất có thể yên tâm đầu tư tài chính, cải thiện khoa học công nghệ phục vụ việc nghiên cứu, sản xuât giông, nuôi thương phẩm và chế biến, thương mại sản phẩm".

Chị cũng rất day dứt về một trong những mối nguy lớn đe dọa nghề nuôi hải sản là gió, bão, sóng lớn và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Cơn bão số' 12 năm 2017 đã gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi thuỷ sản ở Khánh Hoà, và điều này dẫn đến nhu cầu thực tiễn về nghiên cứu, thử nghiệm các lồng nuôi, cấu trúc nuôi phù hợp để chống lại các điều kiện thời tiết bất thường nói trên, bảo vệ tài sản, tính mạng cho người nuôi thuỷ sản.

Ngoài ra, việc quản lý môi trường nuôi thuỷ sản cũng là vấn đề mà không chỉ Công ty TNHH Phượng Hải quan tâm. Người nuôi lồng bè ở Khánh Hoà có ý thức tốt trong việc quản lý chất thải, rác thải nhựa, tuy nhiên, việc quản lý rác thải nhựa từ hoạt động du lịch, tàu cá, bến cá, bến tàu du lịch còn bị buông lỏng, chưa có cơ quan chức năng tổ chức thu gom rác ở khu vực nuôi biển cũng như vùng ven bờ, quanh các khu cảng du lịch. Điều này không những làm mất mỹ quan mà còn gây ra các hệ luỵ lâu dài, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động nuôi trồng thuỷ sản.

Chia tay chị, hình ảnh người đàn bà 20 năm đi tiên phong, miệt mài cho cá biển sinh sản, quên cả đời sống riêng của bản thân, đậm mãi trong lòng tôi. Ngành nuôi biển Việt Nam cần bết bao những con người tâm huyết, đầy năng lượng sáng tạo như chị!

Bài và ảnh: Nguyễn Bá Thông

Bạn cần đăng nhập để bình luận