vsalogo

Hoa Kỳ: Công nghệ trại 3D bền vững

Ngày đăng: 26/09/2017
Công ty Thimble Island Oyster sở hữu một trong những trang trại nuôi biển 3D bền vững đầu tiên tại Hoa Kỳ. Người đứng đầu công ty - ông Breen Smith - từng là ngư dân, trước khi chuyển sang nuôi và kinh doanh động vật giáp xác và tảo biển. Trang trại của Công ty Thimble Island Oyter rộng 40 ha, sử dụng toàn bộ tầng nước để phát triển nhiều sinh vật khác nhau

Công ty Thimble Island Oyster sở hữu một trong những trang trại nuôi biển 3D bền vững đầu tiên tại Hoa Kỳ. Người đứng đầu công ty - ông Breen Smith - từng là ngư dân, trước khi chuyển sang nuôi và kinh doanh động vật giáp xác và tảo biển. Trang trại của Công ty Thimble Island Oyter  rộng 40 ha, sử dụng toàn bộ tầng nước để phát triển nhiều sinh vật khác nhau - từ tảo bẹ đường và hàu đến trai và sò - đã tạo nên một hình mẫu quốc gia trong sản xuất thực phẩm bền vững, phục hồi đại dương và phát triển kinh tế.

 

Từ một ngư dân lại trở thành người phục hồi đại dương – câu chuyện đó như thế nào, thưa ông Breen Smith?

 

Câu chuyện của tôi là sự chuộc tội sinh thái. Ở tuổi 14, tôi bỏ học và ra biển. Công việc đầu tiên của tôi là đứng trên boong tàu với súng ngắn và bắn lũ chim trước khi chúng ăn trộm mồi. Tôi làm ca 30 giờ trong nhà máy, tham gia vào việc tàn phá môi trường, đánh bắt trái phép vào ban đêm ở vùng biển được bảo vệ… Tôi từng tự tay ném hàng ngàn cân phụ phẩm chết xuống biển.

Nhưng là một ngư dân, muối mặn đã chảy cùng máu trong huyết quản, tôi không thể chịu đựng mãi sự tàn phá biển, vì thế tôi từ bỏ và thử chuyển sang nuôi trồng thủy sản, kiếm việc trong trang trại nuôi cá hồi ở Canada.

Nuôi trồng thủy sản từng là giải pháp cho vấn đề đánh bắt quá mức. Tôi quyết định theo đuổi con đường phát triển bền vững, nên đã tìm đến vịnh Long Island, nơi có chương trình cho thuê ngư trường nuôi giáp xác, dành cho những ngư dân dưới 40 tuổi. Tôi thuê 20 ha, bắt đầu thu hoạch hàu, và sau nhiều thử nghiệm thất bại, đã xây dựng được một trong những trang trại 3D ở Hoa Kỳ.

 

Vậy trang trại biển 3D là gì?

 

Trang trại biển 3D được thiết kế để góp phần phục hồi đại dương. Chúng tôi sử dụng phương pháp nuôi mới để đáp ứng nhu cầu thủy sản bền vững, cùng lúc tái tạo hệ sinh thái, giảm thiểu biến đổi khí hậu và xây dựng kinh tế xanh. Chúng tôi nuôi và chế biến hàu, vẹm, tảo bọ, sò và thậm chí muối biển. Hoạt động này, nói một cách hình ảnh, để lại rất ít dấu chân dưới biển.

Tảo bẹ của chúng tôi - được ví như "rừng nhiệt đới của biển" - hấp thụ nhiều carbon gấp năm lần so với những loài thực vật đất liền. Vì thế tôi không chỉ là ngư dân; tôi là nông dân khí hậu. Trang trại của chúng tôi còn có chức năng bảo vệ, giúp giảm thiểu tác động của bão lên cộng đồng duyên hải.

Tảo bẹ và hàu cần nitrogen để phát triển, vì thế trang trại của chúng tôi - hút 164 kg nitrogen mỗi năm - việc này quan trọng trong phục hồi chất lượng nước. Chúng tôi cũng chuyển tảo bẹ thành phân lỏng cho Dự án thực phẩm bền vững của Yale nhằm giảm nitrogen từ việc nuôi trên đất liền.

Những bãi nhân tạo trong hệ thống trang trại của chúng tôi đã thu hút 150 loài đến sinh sống. Sau mười năm nuôi, từ một nơi cằn cỗi của đại dương, khu vực này giờ trở thành một hệ sinh thái khỏe mạnh

 

Ông có thể làm gì với tảo bẹ?

 

Chúng tôi có món mỳ tảo bẹ, kem tảo bẹ và thậm chí cocktail, rất tốt cho sức khỏe nữa. Cá không tạo ra omega-3 mà chúng hấp thụ omega-3. Vì thế bằng cách ăn như cá, người tiêu dùng có được lợi ích tương tự, thay vì phải ăn cá đánh bắt từ đại dương.

Tôi đã tạo ra chương trình công việc xanh để thuê những đứa trẻ sống trong thành phố chế biến tảo biển và các sản phẩm nuôi khác. Tôi cũng phát triển vô số cách dùng thương phẩm bền vững cho tảo bẹ, bao gồm phân lỏng hữu cơ và xăng sinh học; phát triển hệ thống làm lạnh, sử dụng năng lượng mặt trời cho việc vận chuyển và lưu trữ. Tiềm năng trong lĩnh vực này dường như là vô hạn. Chúng tôi vừa bắt đầu một dự án phục hồi truyền thống của người Scotland trong việc dùng tảo làm thức săn chính cho gia súc, chủ yếu là cừu. Biện pháp này giúp giảm thải khí metan, cũng như phát triển cừu nuôi bằng tảo cho thị trường cấp cao.

   

Ông nghĩ hoạt động nuôi trồng thủy sản cần được định hướng lại như thế nào?

 

Về cơ bản, theo tôi có hai việc: 1) Phát triển các loài có thể tái tạo môi trường, làm giảm thiểu biến đổi khí hậu, phục hồi hệ thống sinh học và giảm áp lực lên quần thể cá đang ít đi; 2) Hình dung lại vai trò của ngư dân từ một người săn lượm đến doanh nhân biển sản xuất thực phẩm, xăng dầu, và phân bón cho cộng đồng địa phương.

Chúng tôi bắt đầu với GreenWave, một tổ chức làm việc để nhân rộng mô hình khắp nước Mỹ và toàn cầu, tạo thêm những trại 3D mới và đẩy thêm những khả năng của biển, như dựng trại nuôi 3D trên các trang trại gió ngoài khơi. Mục tiêu của chúng tôi là đào tạo hàng ngàn người nuôi biển mới. Chúng tôi muốn ngư dân tương lai ở bên này tuyến kinh tế biển mới đáp ứng nhu cầu thủy sản bền vững đang tăng nhanh, tái tạo môi trường sống, phục hồi cộng đồng trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu. Chúng tôi tin rằng kiểu tạo dựng hình tượng về kinh tế biển và vai trò của ngư dân là hy vọng duy nhất để cứu biển của chúng ta - và chính chúng ta - trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu.  

 

Trại nuôi 3D đã đoạt giải Fully Challenge 2015  - giải thưởng bền vững trị giá 100000 USD.  

Theo Future of Fish

 

Link: http://www.futureoffish.org/profile/bren-smith

 

Thức ăn thay thế bột cá – mối quan tâm toàn cầu

Ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) đang cần những loại thức ăn mới, có khả năng thay thế bột cá, dầu cá; nhưng tới nay, nguồn thức ăn nào là sự thay thế hoàn hảo vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi.

  1. Nhiều hướng đi
    Các nước NTTS đều khẳng định bột cá, dầu cá luôn là nguồn thức ăn chăn nuôi tốt nhất. Chỉ có một trở ngại duy nhất - đó là giá tăng liên tục - khiến chi phí đội lên thành những khoản chi khổng lồ. Phó Giám đốc Biomar, Neils Alsted đánh giá, bột cá là nguồn thức ăn chăn nuôi hoàn hảo, nhưng đó cũng là nguyên do khiến nó trở thành mặt hàng đắt đỏ. Giovanni Turchini, Hiệu trưởng Đại học dinh dưỡng thủy sản Deakin tại Australia, đồng tình với ý kiến trên. Ông cho biết thêm, hiện thế giới chưa có nhiều nguồn thay thế cho loại thức ăn chăn nuôi này.

Viện Nghiên cứu Dinh dưỡng và Thủy sản quốc gia Na Uy (NIFES) đang nghiên cứu cách tận dụng những nguồn thức ăn thay thế, ví dụ phụ phẩm ngành công nghiệp thực phẩm, để làm thức ăn nuôi cá. Các nhà khoa học cũng đã tính đến việc sử dụng tảo biển hay tảo bẹ làm thức ăn cho côn trùng, và sau đó chế biến côn trùng thành làm thức ăn nuôi cá, rất hiệu quả. Việc sử dụng trực tiếp tảo bẹ, vốn có thành phần carbonhydrate cao, có thể khiến cá khó hấp thụ.

“Theo cách thức này, côn trùng sẽ đóng vai trò là một cỗ máy chuyển hóa chất dinh dưỡng để cung cấp cho cá” – Torsetensen, Giám đốc NIFES giải thích.

  1. Kỳ vọng

 Tại châu Âu, nhiều nhà máy sản xuất côn trùng đã được xây dựng ở Hà Lan. Sứ mệnh tìm kiếm nguồn thức ăn bền vững đã được quan tâm từ rất lâu và đang được “hiện thực hóa”. Các nhà khoa học không bỏ qua bất cứ tia hy vọng nào, họ tận dụng tất cả phụ phẩm thực phẩm thải ra từ siêu thị để làm thức ăn nuôi ruồi lính đen, sau đó chuyển hóa thành chất béo, protein.

Những công ty vẫn đang miệt mài trong guồng quay của sự tìm kiếm đó phải kể đến Nutrinsic – Công ty sản xuất protein bền vững tại Mỹ. Nutrinsic vừa “tái chế nâng cấp” chất dinh dưỡng nhằm mang lại giải pháp dinh dưỡng công nghiệp từ đầu năm nay. Công ty này tuyên bố hợp tác với đại gia sản xuất bia là MmillerCoors Brewery, tận dụng nước thải bia để chuyển hóa thành sản phẩm thức ăn mới, có thương hiệu Nitrinsic ProFloc. Nutrinsic loại bỏ 100% cặn, chất thải, và sử dụng vi sinh vật chuyển hóa chất dinh dưỡng thành protein, gom lại, khử trùng và sấy khô tại các cơ sở sản xuất và đóng gói dán nhãn ProFloc. ProFloc từng được đánh giá là nguồn protein siêu phẩm sánh ngang bột cá.

  1. Hành trình gian nan

Bia được sản xuất tươi mới mỗi ngày, giá ổn định, nhờ đó phụ phẩm từ bia có ưu điểm trội hơn bột cá. Theo Nutrinsic, nhu cầu sử dụng protein trong chăn nuôi thủy sản vẫn còn lớn, do đó, đây sẽ là nguồn thức ăn bền vững cả về chất lượng và giá. Tuy nhiên, Nutrinsic chỉ sản xuất được 5.000 tấn tại Mỹ, không thấm vào đâu so với nhu cầu thị trường. Nhưng các nhà nghiên cứu tin chắc rằng vẫn còn những giải pháp mà họ chưa tìm ra, như việc tính đến kiểm soát chất nền, cho phép tăng năng suất 4 – 5 lần tại các cơ sở sản xuất ở Trenton, bang Ohio, Mỹ.

Ngoài ra, các công ty tại Mỹ như Alltecj và Calysta đang nghiên cứu tích cực để tìm kiếm giải pháp thức ăn chăn nuôi thay thế bột cá từ tảo và methane. Calysta khẳng định nguồn protein từ mathane sẽ là giải pháp thức ăn bền vững trong tương lai. Ở nhiều nơi trên thế giới, các nhà khoa học cũng không bỏ qua mọi nguồn thức ăn có thể thay thế bột cá, từ trùn trắng tới các loại côn trùng, với hy vọng khoảng trống thức ăn chăn nuôi trong ngành thủy sản sẽ sớm được lấp đầy. Chúng ta hoàn toàn có thể tin và kỳ vọng những phụ phẩm từ bia hay tảo, methane đều có thể trở thành “bột cá tương lai”.

Đại học Texas A&M đã xây dựng quy trình thử nghiệm ProFloc và thức ăn thông thường trên tôm thẻ nuôi tại Ecuador. Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống của tôm nuôi bằng ProFloc cao hơn tôm nuôi bằng bột cá (91,7% và 87,5%), trọng lượng tăng tốt hơn (8,23 g và 7,62 g) và hệ số chuyển hóa thức ăn thấp hơn (1,54 với ProFloc và 1,84 với bột cá).

Theo Fish Farming International

 

 

“Bền vững” quan trọng hơn giá cả và nhãn hiệu

 

Khảo sát độc lập toàn cầu tiết lộ tầm quan trọng của tính bền vững khi mua thủy sản.

Nghiên cứu độc lập mới đây cho thấy tính bền vững là lý do quan trọng trong  việc chọn mua thủy sản. Tại 21 nước được khảo sát từ tháng một đến tháng hai năm 2016, thuộc các châu lục khác nhau, tính bền vững được xếp hạng cao hơn giá cả và nhãn hiệu. 72% người tiêu dùng đồng ý rằng để bảo vệ đại dương, các cửa hàng chỉ nên bán thủy sản từ các nguồn bền vững.

Việc này trái ngược với động lực mua sắm trong các cửa hàng các hàng tiêu dùng nhanh (FMCGs), nơi giá cả và nhãn hiệu vượt xa tính bền vững  trong việc quyết định mua hàng.

Khảo sát nhận thức của người tiêu dùng là phân tích toàn cầu lớn nhất về thái độ với tiêu dùng thủy sản được tiến hành độc lập, được Hội đồng Quản lý Đại dương thực hiện trên 16000 người.

 

 

Tính bền vững ảnh hưởng đến hành động của người tiêu dùng mọi lứa tuổi

Trong số 85% hộ gia đình hay mua thủy sản, tính bền vững của sản phẩm ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của họ. 68% người được khảo sát cho biết họ sẵn sàng chuyển sang mua thủy sản bền vững.
Người lớn tuổi quan tâm hơn giới trẻ về tính bền vững. 75% người tiêu dùng thủy sản ở độ tuổi từ 55 trở lên cho biết cần sử dụng thủy sản chỉ từ những nguồn bền vững, trong khi chỉ có  67% người từ 18 đến 34 tuổi có nhu cầu này.
68% những người được khảo sát cho biết họ cần có thông tin về nhãn hiệu và siêu thị để xác minh độc lập những thông tin về tính bền vững, cùng đó 62% người đồng ý rằng, qua việc mua thủy sản có dán nhãn sinh thái, họ đang giúp đảm bảo nguồn cá cho thế hệ tương lai. Cũng 62% người trong cuộc khảo sát đồng ý rằng những nhãn hàng sinh thái trên các sản phẩm thủy sản nâng cao lòng tin và tự tin về nhãn hiệu đó.

 Trong khi 10% thủy sản đánh bắt tự nhiên trên thế giới đến từ ngư nghiệp được chứng nhận MSC, 37% trong số những người tiêu dùng nói họ đã thấy nhãn hiệu sinh thái của MSC. Trong 21 thị trường khảo sát nhận thức về nhãn hiệu sinh học MSC thay đổi, từ 13% ở Canada lên đến 71% ở Thụy Sĩ. 41% người trả lời từ 18 đến 34 tuổi có vẻ nhớ ra họ đã thấy nhãn hiệu MSC,  trong lúc chỉ có 30% trong số những người 55 tuổi trở lên nhớ được. Trong số những người đã thấy nhãn hiệu MSC, 64% cho biết họ sẽ giới thiệu người quen dùng sản phẩm dán nhãn MSC.

54% số người tiêu dùng thủy sản sẵn sàng trả thêm cho sản phẩm thủy sản được chứng nhận bền vững.

Quan điểm tích cực của MSC

Đối với câu hỏi: cơ quan nào đóng góp nhiều nhất trong việc bảo vệ đại dương? Người trả lời xếp hạng NGO (41%) và các tổ chức khoa học (36%) cao nhất, theo sau là chính phủ và doanh nghiệp ở hạng ít hiệu quả nhất.
Những kết quả này liên quan tới nhận thức của người tiêu dùng về MSC, 86% người tiêu dùng đã thấy nhãn hiệu này nói rằng họ tin tưởng và lạc quan về ảnh hưởng của các tổ chức.

Là nhãn hiệu sinh thái thủy sản được công nhận nhất thế giới và chương trình cấp chứng nhận, người tiêu dùng lạc quan rằng MSC, ngư dân, người bán lẻ và nhãn hiệu làm về thủy sản được chứng nhận MSC đang góp phần cho sức khỏe của đại dương. 81%  người đã từng thấy nhãn hiệu nói rằng MSC  chứng nhận ngư nghiệp bền vững. Cũng 81% người nói rằng MSC khuyến khích mọi người mua sắm bền vững hơn.

 

Trao quyền cho người tiêu dùng, tạo sự lựa chọn tích cực
"Sự hợp tác giữa các nhà khoa học, NGO, người bán lẻ và ngành công nghiệp đang mang tạo nên những ảnh hưởng tích cực lên biển, tuy vậy ngư nghiệp không bền vững rõ ràng vẫn là  thách thức. Người tiêu dùng  nhận ra nhãn MSC xanh, hãy tin. Tuy nhiên vẫn còn nhiều việc chúng ta có thể làm để yêu cầu thủy sản bền vững, và trao quyền cho người mua sắm để có được sự lựa chọn tích cực " - Caroline Holme, Giám đốc của GlobeScan, đánh giá. Ông cũng cho biết, khảo sát này cho thấy phân tích về sự so sánh nhãn phân loại thủy sản bởi những người khác nhau như thế nào. Phân loại cùng một vài nhãn hàng được tin cậy, bên thứ ba cho rằng  tính bền vững và truy xuất nguồn gốc có thể giúp người tiêu dùng xác định lựa chọn tốt hơn. Tính bền vững của đại dương lại là chủ đề liên quan mật thiết với phân loại sản phẩm và ưu tiên của người tiêu dùng hơn là chúng ta nghĩ.

Ngoài ra, những con số khảo sát hỗ trợ nghiên cứu của Nielsen năm 2015 cho thấy những sản phẩm có nhãn hàng bền vững tăng 4%, trong khi những nhãn hàng không có giảm 1%. 

 

Theo MSC

Link: https://www.msc.org/newsroom/news/seafood-consumers-put-sustainability-before-price-and-brand

 

 

Người nuôi hàu ở Maine tiếp cận công nghệ Nhật Bản

Lỗ xuyên vào "tai" sò biển cho phép loài này treo trên dây và chìm dưới nước để phát triển một cách tối ưu.

Với người nuôi động vật giáp xác thương phẩm, sò khó nuôi hơn những loài động vật hai mảnh khác. Không giống như hàu, vẹm, ngao… sò cần nơi đựng  không chỉ phòng động vật ăn thịt mà còn ngăn sò bơi đi. Sò cũng không phát triển được trong các lồng chìm hoặc các túi lưới buộc chặt.

Mark Green, giáo sư khoa học tự nhiên tại trường St.Joseph ở Main và đồng sự tại công ty Basket Island Oyster, công ty vận hành nam Maine, từng nghĩ về nuôi sò trong những lồng đáy. Việc đó đã thành công, nhưng không giống như hàu - loài có thể chịu được mật độ thả giống sát nhau. Ông từng nghĩ tại sao phải nuôi sò biển khi có thể nuôi gấp 10 lần số hàu biển cùng một chỗ. Sau đó ông đã thử nghiệm cách treo vỏ.

Từ Nhật Bản đến Maine

Sò biển đeo tai (Placopecten magellanicus)  là kỹ thuật được phát triển ở Nhật Bản, lỗ được đục trên vỏ sò ở góc gần với khớp nối - nhờ thế người ta có thể buộc sò với dây thả chìm trong nước khi sò lớn. Việc nuôi sò ở Nhật Bản được coi là một trong những nỗ lực có tổ chức thành công và lâu đời nhất trên thế giới, cùng với thu lượm tảo trong những năm 1930.

Sò được treo trên những dây cách nhau xa nhau chục cm trong hai năm đến khi thu hoạch, giúp sò lớn nhanh hơn vì chúng được tiếp xúc với không khí thoáng trong vùng lọc nước và ăn sinh vật phù du.

Enter Hugh Cowperthwait là giám đốc dự án ngư nghiệp cho Công ty Coastal Enterprise (CEI), phát triển cộng đồng và tổ chức tham vấn kinh doanh ưu tiên ở Maine. Cowperthwaite đã tìm cách giữ các gia đình đánh bắt cá Maine gắn bó với ngành thủy sản, mặc cho những cấm đoán ngư nghiệp thương phẩm khắp Đông Nam Hoa Kỳ gây nhiều khó khăn. Vùng nước lạnh ở Maine và vùng nông thôn rộng lớn là khu vực lý tưởng cho nhiều loại hình nuôi trồng thủy sản, và CEI giúp ngư dân chuyển đổi sang nuôi.

CEI tận dụng hiệp định tình hữu nghị được thiết lập năm 1993 giữa các thành phố đóng  tàu giữa Maine và Nhật Bản. Hợp tác mở rộng toàn bang Maine và quận Aomori, với chương trình đại biểu đến thăm quan hai năm một lần và thúc đẩy quan hệ giáo dục, văn hóa và kinh doanh thương mại.  

Ông Cowperthwaite cho biết trong năm 1999 đại diện  từ Maine  đến Nhật Bản khảo sát ngành nuôi sò. Thu lượm sò tự nhiên là trọng tâm của bang Maine từ những năm 1980, trừ việc tái sản xuất giống tự nhiên. Chuyến thăm Nhật Bản "gieo hạt" đã mở ra cho Maine ngành nuôi.

"Tôi nghĩ chúng ta nên  có mối quan hệ," Cowperthwaite nói. "Chúng ta đã xin xỏ từ năm 1995, nhưng  chưa tiến thêm bước nào trong việc xây trang trại ở Maine tập trung vào sò. Nếu chúng ta có trại, và có thể chứng minh ý tưởng này, người khác sẽ thấy việc này là cơ hội kinh tế, như ngành nuôi hàu và vẹm ."

Trong 110 nơi thuê nuôi trồng thủy sản tiêu chuẩn ở Maine, 28 nơi được cho phép nuôi sò nhưng chỉ làm thủ công.

Quỹ trợ cấp ưu tiên kiểm tra hiệu quả của các thiết bị tự động: một phần sẽ làm các dây dọc với các chốt nhựa để treo sò, thiết bị đục lỗ trên vỏ sò. Thiết bị thứ ba để làm sạch các chất bẩn sinh học trên sò - được đặt ở một bên phần của tàu - khi chúng đang phát triển trong vòng năm đến sáu tháng. "Máy giặt", như giáo sư Mark Green gọi thiết bị này, có thể là thứ tạo nên sự khác biệt.

"Chúng là những con quái vật, những miếng rêu khi bạn kéo chúng ra khỏi nước," Green nói. "Tôi tưởng tượng tỉ lệ tăng trưởng thậm chí sẽ cao hơn cái mà chúng tôi đã từng ghi nhận, nếu cọ rửa chúng." Đồng sự kinh doanh của Green đầu tư vào nuôi sò, công ty Maine Scallop, nói rằng loại máy này sẽ giảm chi phí thí nghiệm rất nhiều. "Nó giống như chuyển từ việc xới đất bằng tay sang dùng máy kéo," Peter Stocks nói.

Không có máy móc tự động, sử dụng thiết bị chuyên biệt được phát triển ở Nhật Bản, nông dân nuôi sò sử dụng kỹ thuật treo tai phải khoan từng con một  bằng tay.

Ông Cowperthwaite giải thích cách hoạt động của máy: "Tàu đi đến vùng thuê ở biển, các tàu kéo các dây nuôi, kéo qua đầu bánh xe và sò đi dọc băng tải ngắn. Sò được rửa như rửa xe. Sau đó các dây được đưa lại vào nước. Tất cả chỉ trong vài giây."

Dana Morse, liên kết Chương trình của trường Maine Sea Grant và Trường đại học Maine Hợp tác bổ sung ở Walpole, Maine, làm việc về thả giống sò và nuôi trồng trong 17 năm tại Trung tâm Darling Marine. Morse đã thử nghiệm với nhiều loại máy  móc nuôi, trong khi thu thập dữ liệu về tỉ lệ phát triển và tỉ lệ tử vong. Morse sẽ đến Nhật Bản và hy vọng đặt dự án về phân tích kinh tế cho nuôi sò ở vùng biển Maine. Morse cho rằng thị trường sò rất mạnh, đặc biệt là với sò sống, tập trung ở phần cơ khép vỏ đoạn thịt chính nằm trong vỏ với màu cam, hoặc bọc trứng mà các đầu bếp đánh giá cao.

Sebastian Belle giám đốc điều hành Hội Nuôi trồng thủy sản Maine  kỳ vọng về tiềm năng nuôi sò - loài bản địa - trong vùng biển Maine. Sò có thể mang lại cơ hội cho người nuôi giáp xác đa dạng hóa sản phẩm.

Qua việc đầu tư sò, người gây quỹ, người nghiên cứu và các nhà làm luật của bang đang chứng minh sức mạnh của hợp tác. Cowperthwatie cho biết bang đã cấp quỹ cho những lần thử nghiệm sau này với phương pháp treo vỏ, phương pháp mang tính thử nghiệm nhưng đầy hứa hẹn với những người tham gia.

Theo Gloal Aquaculture Advocate

Link: http://advocate.gaalliance.org/maine-scallop-farmers-get-the-hang-of-japanese-technique/

Bạn cần đăng nhập để bình luận