vsalogo

DỰ ÁN VELELLA VÀ LỒNG AQUAPOD

Ngày đăng: 14/02/2019
(VSA - 14.2.2019) Hầu hết hoạt động nuôi cá biển ngày nay đều diễn ra gần bờ, nhưng nhiều người tin chắc rằng có thể mở rộng ra khơi xa. Và họ không hề đơn độc.

Một lồng nuôi thử ng­hiệm được thả trôi tự do trong những dòng biển ra xa Đảo Lớn của Ha­waii, nhưng vẫn được theo dõi chặt chẽ. Lồng nuôi 2.000 con cá giống của loài cá được gọi là kam- pachi (thuộc họ cá cam), không có neo, trôi trong đại dương mênh mông, được các nhà sinh học biển của Công ty nuôi trồng thủy sản Kampachi Farms quản lý. Đó là Dự án Velella, được dẫn dắt bởi ông Neil Sims - người tiên phong trong công nghiệp nuôi trồng thủy sản, nỗ lực đầu tiên và quan trọng nhất trong nuôi biển thương mại ngoài khơi của Hoa Kỳ.

Hầu hết hoạt động nuôi cá biển ngày nay đều diễn ra gần bờ, nhưng nhiều người tin chắc rằng có thể mở rộng ra khơi xa. Và họ không hề đơn độc. Các nhà nuôi biển ở Na Uy, Ireland, Canada và Chile cũng đang bắt đầu nghiên cứu các phương án nuôi biển khơi, mặc dù công nghệ vẫn còn trong giai đoạn sơ khai.

Những người chỉ trích nuôi biển thường nói đến các vấn đề về ô nhiễm, hệ số thức ăn cao quá, đặc biệt là lo ngại về việc cá sổng khỏi lồng nuôi. Nhưng đối với Dự án Velella, những mối lo đó dường như đã được giải quyết.

Ông Sims sử dụng một kết cấu được thiết kế đặc biệt là lồng Aquapod để nuôi cá. Thiết kế hình cầu khác thường của nó giúp giảm lượng cá sổng thoát và có thể chịu được những điều kiện thời tiết biển khắc nghiệt. Cá kam- pachi có nguồn gốc từ vùng biển Hawaii và bơi khắp đại dương. Nếu cá nuôi thoát ra, chúng có xu hướng cụm lại gần lồng nuôi, vì vậy cá tự nhiên cũng tránh được nguy cơ lai giống chéo.

Mặc dù dự án gặp không ít khó khăn - hai lồng thử nghiệm đã bị mất, hiện tượng La Niña bất ngờ đã khiến việc dự báo và theo dõi các dòng biển trở nên khó khăn hơn, nhưng kết quả ban đầu vẫn đầy hứa hẹn. Đó là tin tốt lành cho ngành công nghiệp nuôi biển đang hy vọng có thể vượt qua những thách thức kỹ thuật và pháp lý cho việc nuôi trong vùng biển liên bang, cách bờ từ 3-200 hải lý.

Bảo dưỡng lồng aquapod. Ảnh: Bryce Groark.

"Thử nghiệm beta Velella cho chúng tôi thấy hiệu suất sinh học của cá nuôi trong hệ thống lồng lưới là đáng ngạc nhiên" ông Sim nói.

Thật vậy, cá được nuôi trong Dự án Velella đạt kích cỡ thương phẩm cho thu hoạch chỉ mất một nửa thời gian; tỷ lệ cá sống trong lồng Aquapod cao; bởi ông Sims đã sử dụng loại thức ăn gốc đậu nành giàu protein, thay vì loại chủ yếu dựa vào bột cá; tỷ lệ cá thu hoạch so với cá thả vào đạt đến mức bền vững hơn nhiều so với các loại hình nuôi truyền thống khác. Đối với các vấn đề ô nhiễm, lồng nuôi nằm trong vùng biển sâu tới 12.000 feet (tức khoảng 3.657m) và theo ông Sims, tác động của lồng nuôi đến chất lượng nước, rạn san hô hoặc động vật có vú ở biển - mối quan ngại sâu sắc nhất của một số nhóm môi trường - là thấp tới mức không thể đo được.

Tại sao dự án có vẻ có tương lai này lại quan trọng với con người? Vào năm 2015, thế giới đã tiêu thụ cá nuôi nhiều hơn cá đánh bắt tự nhiên. Theo báo cáo của World- Fish Center và Conservation Inter­national, nuôi trồng thủy sản có lẽ là một trong những phương pháp sản xuất protein hiệu quả nhất cho dân số đang phát triển trên thế giới, với tác động môi trường ít hơn so với đại gia súc, gia cầm hoặc lợn.

Nhưng việc tiếp cận các địa điểm ven biển để nuôi cá bị những hạn chế. Để đáp ứng phần nào sự tăng trưởng đó, ta phải đưa nuôi trồng thủy sản lên bờ, hoặc vượt qua những thách thức để đẩy nó ra xa hơn, ra vùng biển liên bang. Dự án Velella là lần đầu tiên nghề nuôi cá biển được đưa ra vùng biển sâu Hoa Kỳ.

"Để cung cấp protein cho thế giới, nuôi trồng thủy sản là cách tốt nhất và chúng ta nên làm việc đó ở ngoài khơi xa", ông Michael Rubino - giám đốc Chương trình nuôi trồng thủy sản của NOAA (Tổng Cục Khí quyển và Đại dương) cho biết.

Song việc ấy nói dễ hơn làm. Ngoài những thách thức như tác động hầu như liên tục của sóng biển, thì chi phí nhiên liệu để các tàu quản lý trì lồng nuôi là rất cao (trong trường hợp Dự án Velella, một chiếc tàu có người lái luôn luôn phải nối với lồng, để đảm bảo nó không bị trôi quá lệch so với hành trình, và để đảm bảo chỗ ở cho nhân viên theo dõi dự án), và hàng loạt các trở ngại kỹ thuật khác, nhưng thực tế là hiện vẫn chưa hề có một quy định nào được ban hành.

Ông Rubino mong muốn có một luật riêng cho nuôi biển xa bờ. "Theo luật thủy sân hiện hành, nuôi trồng thủy sân vãn được hiểu như là khai thác hâi sân. Chúng tôi cân một luật mới", ông nói.

NOAA quan tâm đến tiến trình thực hiện Dự án Velella, nhưng lưu ý đến tầm quan trọng của việc phát triển dần dần, từng bước của công nghệ này. "Nếu có thể giâi quyết các vấn đề pháp lý, chúng tôi sẽ cấp một số giấy phép nhất định, và nếu chúng hoạt động có hiệu quâ, thì trong 10 nám tiếp theo, chúng tôi sẽ cấp thêm. [NOAA] có nhiệm vụ quân lý. Tuy nhiên việc này phâi được thực hiện trong bối cânh bâo đâm các đại dương lành mạnh", ông Rubino nói.

Theo ông Rubino, có một cách khác để nuôi biển xa bờ có thể mở rộng hơn nữa, là mỗi hội đồng quản lý nghề cá khu vực (hiện cả nước có 8 hội đồng) tự đề ra kế hoạch quản lý nuôi biển riêng. Đó là điều mà Hội đồng Vịnh Mexico đã làm, đưa vùng này dẫn đầu trong ngành nuôi biển thương mại ngoài khơi.

Neil Sims trên một chiếc thuyền gần lồng Aquapod (Ảnh: Bryce Groark.)

Chris Mann, giám đốc Dự án Tiêu chuẩn Nuôi trồng Thủy sản của Tổ chức Môi trường Pew, nói rằng Dự án Velella dường như có kết quả tốt thì câu chuyện là cần phải thảo luận về quy mô.

"Chúng tôi đánh giá cao một người như Neil - người có cách nhìn khác về nuôi biển. Rất may là chúng tôi không áp dụng mô hình cho động vật án tập trung (CAFO) vào nuôi đại dương. Vì cá thâi chất thâi vào nước biển nên nếu có một ngành công nghiệp nuôi biển lớn, thì sẽ gây ra ô nhiễm nặng và nhiều vấn đề khác. Nếu chỉ có quy mô nhỏ, [như Dự án Velella] sẽ có ít vấn đề xây ra hơn", ông Mann nói.

Sims nói rằng ông nhận thấy sự cần thiết của quy mô và thực tế là nuôi biển xa bờ có nghĩa là sử dụng một nguồn tài nguyên chung.

Gần đây, ông đã xin giấy phép cho dự án tiếp theo Velella Gamma, lồng sẽ được neo vào một điểm dưới đáy đại dương và có thể cần ít nhân viên giám sát hơn. Phạm vi đặt lồng ít sâu hơn, ở độ sâu 6.000 feet. Mục tiêu là sẽ hướng tới tự động hóa nhiều hơn. "Những khi biển động máy móc có thể hoạt động tốt hơn con người".

Cuối cùng, yếu tố kinh tế sẽ quyết định nuôi biển xa bờ có thực sự phát triển trong thập kỷ tới hay không.

"Lời hứa tuyệt vời của nuôi trồng thủy sân là mang lại 'Cuộc cách mạng xanh' - nó có thể tạo ra nguồn cung cấp protein lành mạnh và dồi dào cho nhu câu thế giới đang gia táng, nhưng chỉ có thể làm điều đó nếu lựa chọn đúng loài để nuôi", Mann nói. Ông lo rằng các nhà sản xuất cá lớn hơn được thúc đẩy bởi nhu cầu thị trường hơn là nỗ lực để cung ứng thực phẩm cho thế giới một cách bền vững. "Bạn nuôi thế giới chủ yếu bằng nhuyễn thể có vỏ và cá rô phi" ông nói, "chứ không phâi bằng cá hồi hay tôm với giá 15 đô la một pound".

Dù sao, Sims cũng sẽ tiếp tục cố gắng vượt qua giới hạn. Ông thấy có nhiều điều đáng lo về nuôi thủy sản. Và, giống như tất cả các ngành sản xuất thực phẩm khác, ông nhấn mạnh vào cách thức để giữ cân bằng.

"Một điều được công nhận chác chán rằng đây là hướng mà chúng ta phâi đi" ông nói. "Hãy thực hiện điều đó một cách đúng đán"./.

Diệu Tú dịch    Nguồn: Undercurrentnews.com


 

Bạn cần đăng nhập để bình luận