Hiệp Hội Nuôi Biển Việt Nam
vsalogo

Bàn giải pháp đưa lĩnh vực nuôi biển trở thành trụ cột chính trong phát triển ngành thủy sản thời gian tới

Ngày đăng: 18/12/2020
Sáng ngày 18/12, tại Phú Yên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên đã tổ chức Hội nghị “Phát triển nuôi biển bền vững”. Hội nghị tập trung bàn những định hướng giải pháp đưa lĩnh vực nuôi biển trở thành một trong những trụ cột chính trong phát triển ngành thủy sản trong thời gian tới.

Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên, Tổng cục Thủy sản, các đơn vị trực thuộc Tổng cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản của các tỉnh/thành phố ven biển, các Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, II, III, các doanh nghiệp nuôi trồng, chế biến xuất khẩu thủy sản, ngư dân cùng các phóng viên báo đài đến dự và đưa tin về Hội nghị.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên ông Trần Hữu Thế đồng chủ trì Hội nghị.

Với chiều dài bờ biển hơn 3.260 km, có nhiều đảo lớn nhỏ, vùng vịnh kín, bãi triều ven biển và một phần ở các hải đảo, vùng biển xa bờ... Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển nuôi biển. Đặc biệt là các vùng biển khu vực phía Tây (ít chịu gió bão), khu vực biển miền Trung có lợi thế về độ sâu, áp dụng công nghệ tiến tiến, đảm bảo phát triển nuôi các loài cá biển công nghiệp có quy mô lớn.

Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, tổng diện tích tiềm năng nuôi biển ở nước ta khoảng 500 nghìn ha, trong đó nuôi vùng bãi triều ven biển 153,3 nghìn ha; nuôi vùng vũng vịnh, eo ngách và ven đảo là 79,79 nghìn ha và nuôi vùng biển xa bờ gần 167 nghìn ha, diện tích còn lại phục vụ các hình thức nuôi khác.

Ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam phát biểu tại Hội nghị

Trong giai đoạn 2010-2019, nuôi biển đã có những bước phát triển đáng kể, diện tích và sản lượng đã không ngừng tăng. Cụ thể, tổng diện tích nuôi biển năm 2010 đạt 38,8 nghìn ha, đến năm 2019 đạt trên 256 nghìn ha với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 23.3%/năm. Năm 2010, sản lượng nuôi biển chỉ đạt hơn 156 nghìn tấn, đến năm 2019 đạt gần 598 nghìn tấn với tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm. Các đối tượng chính được người dân và doanh nghiệp áp dụng hình thức nuôi biển gồm: nhuyễn thể (Ngao/nghêu, sò, hàu, vẹm xanh, tu hài, bào ngư, trai ngọc, ốc hương,..); nhóm cá biển (cá song, cá giò, cá hồng, cá vược, cá tráp, cá chim vây vàng, cá sủ đất, cá măng biển..); nhóm giáp xác (tôm hùm, cua, ghẹ...); rong tảo biển (rong sụn, rong câu, rong mứt, rong nho, tảo biển…), hải sâm, sinh vật cảnh.

Trên cả nước hiện có 51 cơ sở sản xuất giống cá biển, sản xuất được 509 triệu con. Đối với tôm hùm hiện nay chưa chủ động công nghệ sản xuất giống thương phẩm, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tôm giống khai thác tự nhiên và nhập khẩu. Tôm hùm giống phục vụ nuôi thương phẩm ở Việt Nam không ổn định về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng đem đến rủi ro lớn cho người nuôi. Đối với các đối tượng cua, ghẹ, hiện nay công nghệ sinh sản nhân tạo đã được hoàn thiện và đã chuyển giao công nghệ sản xuất giống cho nhiều địa phương đã góp phần vào việc phát triển nuôi cua, ghẹ thương phẩm.

Hiện nay cả nước có 764 cơ sở chế biến thủy sản tham gia chế biến các sản phẩm nuôi biển quy mô công nghiệp, trong đó có 644 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh, 18 cơ sở chế biến đồ hộp, 84 cơ sở chế biến hàng khô, 35 cơ sở chế biến nước mắm và mắm các loại, 3 cơ sở làm dịch vụ kho lạnh. Thị trường tiêu thụ sản phẩm qua chế biến chủ yếu tại các thị trường EU, Mỹ và Nhật Bản, Nga và một số thị trường Trung Đông…

Mặc dù lĩnh vực nuôi biển của Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua. Tuy nhiên, nghề nuôi biển tại Việt Nam hiện vẫn còn manh mún, phát triển nhỏ lẻ nên chưa tận dụng, khai thác hết tiềm năng và lợi thế vốn có của Việt Nam. Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi biển còn nhiều hạn chế, chậm, dàn trải, thiếu đồng bộ. Việc quản lý và sử dụng các công trình, các dự án đầu tư còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, nhiều dự án sau khi xây dựng đưa vào hoạt động chưa đạt được theo công suất thiết kế.

Công nghệ sản xuất giống của nhiều loài cá biển đã được làm chủ nhưng chưa được chuyển giao rộng rãi cho các cơ sở sản xuất giống nên hiệu quả trong sản xuất giống chưa thực sự cao. Do công nghệ phức tạp, đầu tư tốn kém nhưng lợi nhuận thấp, rủi ro lớn nên sản xuất giống cá biển chưa thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp hay ngư dân. Trừ đối tượng cá vược, cá chim vây vàng, cá giò đã được một số cơ sở sản xuất, các loài còn lại mới được sản xuất trong cơ sở của các viện nghiên cứu, trường đại học, các trung tâm giống và một số ít doanh nghiệp.

Nhà nước tuy đã có những chủ trương chính sách khuyến khích phát triển nuôi biển nhưng chưa đầu tư cho nhiều đề tài nghiên cứu để giải quyết dứt điểm trong một thời gian ngắn làm chủ công nghệ sản xuất giống một số loài có giá trị kinh tế cao.

Hiện Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Thủy sản đang rà soát, hoàn thiện “Đề án phát triển nuôi biển Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn 2045”. Trong đó, đề án đã đề ra nhiều mục tiêu đối với tất cả các khâu như: quy hoạch lại cơ sở sản xuất giống, quy trình nuôi, vùng nuôi và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm... đây là cơ sở cho hoạch định chiến lược phát triển nuôi biển trong thời gian tới.

Đại diện Công ty nuôi trồng thủy sản Australis tại Khánh Hòa phát biểu

Theo dự thảo Đề án, mục tiêu đến năm 2025, diện tích nuôi biển đạt 280 nghìn ha và thể tích lồng nuôi 10,5 triệu m3, trong đó:  Nuôi biển ven bờ, đảo gần bờ 270 nghìn ha, thể tích lồng nuôi đạt 8,5 triệu m3 (nuôi ven bờ, ven đảo 20 nghìn ha; nuôi bãi triều và trong đất liền 250 nghìn ha); Diện tích nuôi biển xa bờ 10 nghìn ha, thể tích lồng nuôi đạt 2 triệu m3. Đến năm 2025, mục tiêu đưa sản lượng nuôi biển của cả nước đạt 850 nghìn tấn, trong đó: nuôi biển ven bờ, đảo gần bờ đạt 750 nghìn tấn; nuôi biển xa bờ đạt 100 nghìn tấn và giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 0,800 – 1tỷ USD.

Và mục tiêu đến năm 2030, đưa diện tích nuôi biển đạt 290 nghìn ha và thể tích lồng nuôi 12 triệu m3, sản lượng nuôi biển đạt 1,45 triệu tấn. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hải sản nuôi biển đạt 3-4 tỷ USD.

Tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành nước có nền công nghiệp nuôi biển tiên tiến, phát triển bền vững, với công nghệ hiện đại và phương thức quản lý khoa học. Công nghiệp nuôi biển trở thành bộ phận chính của kinh tế biển nước ta. Việt Nam sẽ trở thành quốc gia hàng đầu về công nghiệp nuôi biển trong khối ASEAN và châu Á, đứng trong tốp 5 trên thế giới về sản lượng và giá trị xuất khẩu hải sản nuôi. Sản lượng nuôi biển đạt 3,0 triệu tấn/năm; giá trị thương mại và xuất khẩu trên 10 tỷ USD.

Tại Hội nghị, PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng - Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, để đẩy mạnh ngành thủy sản phát triển, cần có có sự đột phá. Trong đó, cần hoàn thiện thể chế chính sách liên quan đến nuôi biển, sớm phê duyệt Đề án Phát triển Nuôi biển Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045.

Ông Nguyễn Hữu Dũng cho rằng, trọng tâm đột phá phát triển thủy sản trong 10 năm tới phải là nuôi biển. “Đây chính là dư địa lớn nhất còn lại của thủy sản trong thời gian tới, nếu không phát triển lĩnh vực này, chúng ta chắc chắn sẽ không có được sự đột phá trong thủy sản”. Trong phát triển nuôi biển, cần áp dụng tối đa khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới, ông Dũng nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả, nuôi biển cần kết hợp với các ngành kinh tế biển khác và khi đó sẽ phát triển mạnh hơn rất nhiều. Với các ngành dầu khí, du lịch, điện gió, đóng tàu… nếu tận dụng được năng lực, kỹ thuật, công nghệ của các ngành này để phát triển nuổi biển thì sẽ có rất nhiều ưu thế.

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, nhấn mạnh tiềm năng nuôi biển của Việt Nam rất lớn, với chiều dài bờ biển trên 3.260 km, rộng 1 triệu km2, trong đó khảo sát sơ bộ có khoảng 500 nghìn km2 nuôi biển được.

Thứ trưởng cho rằng thay vì chỉ tập trung vào khai thác chúng ta phải tính đến phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp hiện đại. Đặc biệt, trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm, nguyên liệu phục vụ cho chế biến xuất khẩu phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài, điều này đánh mất lợi thế vốn có của nước ta.

Thực trạng nuôi biển tại Phú Yên

Để hiện thực hóa các mục tiêu trong phát triển nuôi biển theo hướng bền vững, trở thành một trong những trụ cột chính trong phát triển ngành thủy sản trong thời gian tới, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu các cơ quản lý nhà nước, địa phương, các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp tập trung một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế chính sách đồng bộ tạo thuận lợi cho phát triển nuôi biển, tổ chức triển khai thực hiện Luật Thủy sản sửa đổi năm 2017 và các quy định hiện hành, áp dụng chính sách giao khu vực biển, đảm bảo tính ổn định, các quyền tài sản, quyền sử dụng hợp pháp của nhà đầu tư nuôi biển. Rà soát các chính sách liên quan đến thuế, phí trong lĩnh vực nuôi biển. Tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, người nuôi biển tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào chuỗi giá trị nuôi biển. Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế liên quan đến chính sách bảo hiểm, chính sách khuyến khích đầu tư công nghệ cao, chế biến sản phẩm giá trị gia tăng.

Thứ hai, tập trung nghiên cứu ứng dụng và phát triển các công nghệ mới vào nuôi biển, chế biến, chiết xuất các vi chất từ sản phẩm nuôi biển, phụ phẩm chế biến nhằm tạo sản phẩm giá trị gia tăng.

Thứ ba, xây dựng hệ thống thông tin, dự báo phân tích thị trường sản phẩm hải sản nuôi; công bố thông tin rộng rãi đối với các sản phẩm và vật tư nuôi biển công nghiệp chính yếu. Tăng cường tham gia các hợp tác quốc tế để đẩy mạnh xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm nuôi biển Việt Nam ra thị trường khu vực và thế giới, bên cạnh đó, chú trọng phát triển mạnh thị trường nội địa.

Thứ tư, thực hiện chương trình nghiên cứu áp dụng những thành tựu công nghệ mới về gia hóa và chọn giống nhằm liên tục cải tiến chất lượng của đàn bố mẹ.

Thứ năm, thu hút nguồn lực trong và ngoài nước phát triển công nghiệp sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi biển có công nghệ hiện đại, quản lý tiên tiến, liên kết chặt chẽ với các trại nuôi biển; đảm bảo sản phẩm thức ăn có chất lượng cao và giá thành hợp lý.

Thứ sáu, liên kết với công nghiệp đóng tàu, dầu khí, hóa chất và cơ khí chế tạo để phát triển, hoàn thiện công nghệ sản xuất lồng có phần nổi bằng nhựa cứng polyetylen mật độ cao (HDPE) và các vật liệu nhựa bền khác; thiết kế và thử nghiệm các mô hình lồng nổi kết cấu thép nuôi cá đại dương; thiết kế các mẫu lồng chìm có hình dạng, kích thước và cấu trúc khác nhau, thích hợp với từng loài thủy sản nuôi, có khả năng chống chịu sóng, bão, thuận tiện cho theo dõi, chăm sóc và thu hoạch.

Thứ bảy, thiết lập và kiện toàn hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng chống dịch bệnh chủ động, áp dụng công nghệ 4.0 cho những vùng nuôi biển tập trung, hạn chế rủi ro, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo phát triển sản xuất bền vững. Hình thành hệ thống trạm cảnh báo các hiện tượng khí hậu cực đoan ở những vùng nuôi biển tập trung để cảnh báo kịp thời phục vụ công tác di dời, phòng tránh hiệu quả.

Thứ tám, tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực thiết kế, vật liệu làm lồng bè; công nghệ sản xuất giống, thức ăn, nuôi thương phẩm, phòng trị bệnh và các biện pháp thích ứng với BĐKH. hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và sản xuất cho nuôi biển. Tham gia vào các tổ chức quốc tế trong khu vực có liên quan đến hoạt động nuôi biển để chia sẻ các quy định, các hướng dẫn về nuôi biển đảm bảo về môi trường và nguồn lợi.

Văn Thọ - https://tongcucthuysan.gov.vn/

Bạn cần đăng nhập để bình luận